Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam
Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đã có bước tiến rõ ràng, cả về số lượng, cơ cấu hoạt động và hiệu quả.
Những khác biệt cơ bản giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Việt Nam
Vì không phải doanh nhân nên khi viết về doanh nghiệp (DN) nói chung và doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp tư nhân (DNTN) nói riêng tôi phải tham khảo các văn bản quy định có liên quan. Qua tham khảo cho thấy có nhiều văn bản nhưng trong khuôn khổ bài viết này sẽ chỉ nêu các vấn đề liên quan đến DN và DNTN trong Luật Doanh nghiệp (Luật số: 59/2020/QH14), gọi tắt là LDN2020.
Theo Luật này:
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này.
Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.”
Như vậy, DN muốn hoạt động phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và tuân thủ các điều trong LDN2020. Mặt khác, Nhà nước cũng có những bảo đảm để DN hoạt động tốt tại Điều 5 của Luật này. Các bảo đảm này bao gồm:
Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.
Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.”
Nghĩa vụ của các DN được quy định trong Điều 8 của Luật, yêu cầu DN phải đáp ứng đủ điều kiện đầu tư kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư; thực hiện đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ; chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin; tổ chức công tác kế toán, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định.
Ngay cả việc đặt tên DN, tên tiếng nước ngoài của DN cũng được quy định cụ thể ở Điều 38 và Điều 39 của LDN2020.
Qua định nghĩa, quy định trong LDN2020 và một số quy định pháp luật khác, có thể chỉ ra một vài khác biệt về DNNN và DNTN như trong bảng 1.


Trong niên giám thống kê, ngoài DNNN còn có các doang nghiệp ngoài nhà nước gồm: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH tư nhân; Công ty TNHH có vốn Nhà nước từ 50% trở xuống. Tham gia hoạt động kinh tế còn có Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàigồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; DN nhà nước liên doanh với nước ngoài; DN khác liên doanh với nước ngoài và Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp là một loại hình kinh doanh do một cá nhân làm chủ, không hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và không thuộc các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Ngoài ra còn có Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nông nghiệp, Hộ kinh doanh cá thể.
Việc phân biệt đúng loại hình cơ sở sản xuất kinh doanh rất quan trọng trong việc xác định nghĩa vụ thuế, các quy định về quản lý và các quyền lợi liên quan. Niên giám thống kê còn tính toán Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành và phân theo loại hình kinh tế, bao gồm: Kinh tế Nhà nước, Kinh tế ngoài Nhà nước, Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm.
Những điều phân tích ở trên cho thấy: phải hiểu rõ nội hàm từng loại hình kinh tế theo luật và theo quy định trong niên giám thống kê mới có thể hiểu đúng vai trò của chúng. Nhất là trong thời điểm hiện tại có rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động, công tác phân loại, thống kê gặp rất nhiều khó khăn. Theo Niên giám thống kê 2024 cho thấy:
“Số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12/2023 là 735,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,3% so với cùng thời điểm năm 2022; số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh đạt 15,3 triệu người, tăng 3,7%; vốn sản xuất kinh doanh bình quân của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh đạt 56,1 triệu tỷ đồng, tăng 10,2%. Tại thời điểm 31/12/2024, cả nước có 9,2 doanh nghiệp đang hoạt động bình quân 1.000 dân, tăng 2% so với cùng thời điểm năm trước”.
Đây quả thật là những con số biết nói và các nhà kinh tế cần nắm bắt, thu thập, cập nhật thông tin để làm rõ tầm quan trọng và những đóng góp to lớn của các DN nói chung và DNNN nói riêng trong phát triển kinh tế đất nước.
Hiện trạng hoạt động của Kinh tế Nhà nước nói chung và DNNN nói riêng
Trong phần này sẽ trình bày những gì Kinh tế Nhà nước (KTNN) nói chung và DNNN nói riêng đóng góp vào toàn bộ nền kinh tế đất nước qua các con số biết nói từ Niên giám thống kê 2024 (NGTK2024).
Trước hết, hãy xem đóng góp của KTNN vào GDP những năm gần đây. Trên hình 1 trình bày Tổng GDP theo giá hiện hành và mức đóng góp của các loại hình kinh tế các năm gần đây.

Hình 1. GDP (tỷ đồng) theo giá hiện hành và mức đóng góp của các loại hình kinh tế
Từ hình 1 cho thấy, GDP các năm gần đây liên tục tăng, riêng năm 2021 tăng thấp hơn do tác động của dịch bệnh (Covid19). Mức đóng góp của các loại hình kinh tế cũng liên tục tăng, đặc biệt là kinh tế ngoài nhà nước.
Hình 2 trình bày mức đóng góp vào GDP của các loại hình kinh tế, qua đó cho thấy, mức đóng góp của kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất, trong khoảng 50% đến 50,41%. KTNN đóng góp ít hơn, chỉ ở mức từ 20,66% đến 21% nhưng liên tục tăng trong các năm gần đây.
Để thấy rõ hơn, vai trò của các loại hình kinh tế này trên bảng 2 đã liệt kê số lao động có việc làm của từng loại. Qua đó cho thấy, mặc dù kinh tế ngoài nhà nước đóng góp cao hơn cho GDP (cỡ 50%) nhưng loại hình này sử dụng lượng lao động rất lớn cỡ trên 80% tổng lao động có việc làm. Nguyên nhân là loại hình kinh tế ngoài nhà nước không chỉ là các DNTN lớn mà còn cả một số loại hình kinh tế quy mô vừa và nhỏ khác.

Hình 2. Tỷ lệ đóng góp của các loại hình kinh tế vào GDP

Nếu xét về thu ngân sách theo giá hiện hành, NGTK2024 cho thấy, trong tổng thu trong nước (không kể thu từ dầu thô) thì thu từ khu vực công, thương nghiệp, dịch vụ ngoài Nhà nước lớn hơn thu từ doanh nghiệp Nhà nước nhưng chênh lệch không nhiều.
Và nếu xét đồng thời bảng 2 và bảng 3 có thể thấy số lao động làm việc trong loại hình kinh tế nhà nước ít hơn nhiều so với lao động trong kinh tế ngoài nhà nước nhưng đóng góp cho ngân sách vẫn ở mức cao. Xem xét như vậy mới thấy hết vai trò quan trọng của kinh tế nhà nước trong phông chung của kinh tế đất nước.

Trong Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về Phát triển kinh tế tư nhân không nói đến kinh tế ngoài nhà nước nhưng nói đến kinh tế tư nhân. Tuy nhiên theo chúng tôi NGTK sau này nên có thống kê thêm về kết quả hoạt động của KTTN cùng với kinh tế ngoài nhà nước. Khi chưa có thông tin làm rõ khác biệt này, có thể coi chúng có tương đồng rõ rệt để thấy khả năng phát triển của KTTN theo Nghị quyết nêu trên. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030: “Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10 - 12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đóng góp khoảng 55 - 58% GDP, khoảng 35 - 40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84 - 85% tổng số lao động; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5 - 9,5%/năm” và tầm nhìn đến năm 2045: đóng góp khoảng trên 60% GDP”. Chắc chắn, khi đạt tỷ lệ đóng góp của KTTN vào GDP tăng như vậy thì đóng góp của loại hình kinh tế khác, trong đó có KTNN sẽ giảm, đây là điều cần nghiên cứu thêm.
Còn nữa...








![[Infographic] Kết quả công tác tiếp nhận đơn và bảo hộ chỉ dẫn địa lý giai đoạn 2021-2025](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_04_26_14_55026402/a243895069188046d909.jpg)


