Văn học, nghệ thuật trong kỷ nguyên hội nhập cần góp phần củng cố bản sắc văn hóa dân tộc
Với vai trò là lĩnh vực sáng tạo đặc thù của đời sống tinh thần, VHNT không chỉ phản ánh hiện thực, mà còn góp phần kiến tạo nên hệ giá trị văn hóa, tạo dựng hình ảnh con người và xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới. Bước vào kỷ nguyên mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số phát triển mạnh mẽ, VHNT cần khẳng định vai trò quan trọng trong việc chuyển tải, tái tạo và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc một cách sinh động, cảm xúc và sâu sắc.
Áp lực toàn cầu hóa và sự“phai nhạt bản sắc”
Tại Hội thảo khoa học “Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30.4.1975-30.4.2025) do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (Bộ VHTTDL) tổ chức vừa qua, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), TS Nguyễn Tiến Thư cho biết: VHNT nước nhà giai đoạn hiện nay đứng trước sự xâm nhập và lấn át của các sản phẩm văn hóa ngoại lai, nhất là từ các nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển.

VHNT nước nhà giai đoạn hiện nay đứng trước sự xâm nhập và lấn át của các sản phẩm văn hóa ngoại lai, nhất là từ các nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển
Trong khi các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cần được bảo tồn và phát huy, thì nhiều trào lưu, sản phẩm nghệ thuật đại chúng từ bên ngoài với sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt đối với giới trẻ, lại có nguy cơ làm lu mờ bản sắc văn hóa Việt.
Những biểu hiện lai căng, sao chép, lệch chuẩn thẩm mỹ, thậm chí phản cảm, ngày càng xuất hiện nhiều trên các nền tảng số và truyền thông đại chúng, tạo nên sự “xói mòn mềm” về giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng đến khả năng tự thân kiến tạo và khẳng định bản sắc văn học, nghệ thuật dân tộc trong bối cảnh quốc tế hóa.
Sự thiếu ổn định về định hướng tư tưởng, thẩm mỹ trong sáng tác và tiếp nhận nghệ thuật đang trở thành thách thức hiện hữu. Một bộ phận không nhỏ công chúng hiện nay bị cuốn vào các trào lưu giải trí nhanh, nội dung nông cạn, thị hiếu dễ dãi, từ đó tác động trở lại quá trình sáng tác và sản xuất nghệ thuật.
Bên cạnh đó, không ít tác phẩm chạy theo thị trường, xem nhẹ chất lượng tư tưởng - nghệ thuật, thiếu tính giáo dục và phản ánh xã hội có chiều sâu. Trong khi đó, các tác phẩm mang tính chính luận, nhân văn, có giá trị thẩm mỹ cao lại gặp khó khăn trong tiếp cận công chúng rộng rãi, dễ bị lấn át bởi các sản phẩm thương mại hóa.
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm phát triển văn hóa, trong đó có lĩnh vực VHNT, song trên thực tế, việc triển khai còn chậm, thiếu tính hệ thống và chưa tạo được môi trường thuận lợi để nghệ sĩ, văn nghệ sĩ phát huy tối đa khả năng sáng tạo.
Cơ chế đãi ngộ, đầu tư cho sáng tác nghệ thuật chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới; hệ thống thiết chế văn hóa, tổ chức nghề nghiệp hỗ trợ hoạt động nghệ thuật còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa phát huy vai trò trung gian giữa nghệ sĩ và thị trường.

VHNT phải gắn với nhiệm vụ xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ mới, vừa bảo tồn truyền thống vừa cập nhật xu hướng hiện đại
Đội ngũ văn nghệ sĩ đang đối diện với yêu cầu ngày càng cao về năng lực nghề nghiệp, khả năng hội nhập và trách nhiệm xã hội. Trong khi một số nghệ sĩ trẻ năng động, sáng tạo, sẵn sàng đổi mới, thì vẫn còn không ít người hoạt động thiếu định hướng tư tưởng, xa rời hiện thực xã hội, hoặc rơi vào trạng thái bảo thủ, trì trệ trong cách tiếp cận và thể hiện nghệ thuật.
Đặc biệt, sự thiếu hụt lực lượng kế cận trong một số loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, múa rối… là vấn đề đáng báo động, ảnh hưởng đến tính kế thừa và phát triển bền vững của nghệ thuật dân tộc.
Cùng với đó, sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra thách thức không nhỏ. Các nền tảng kỹ thuật số mở ra không gian sáng tạo mới và khả năng tiếp cận công chúng nhanh chóng, nhưng đồng thời cũng đặt ra vấn đề kiểm soát chất lượng, bản quyền, đạo đức nghề nghiệp và tính chân thực trong sáng tác.
VHNT buộc phải thích ứng với môi trường số hóa, đòi hỏi nghệ sĩ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn cần hiểu biết công nghệ, truyền thông và thị trường.
Đồng quan điểm, PGS,TS Lê Thanh Bình, nguyên Vụ trưởng, Tham tán Công sứ, Trưởng khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại (Học viện Ngoại giao) cho rằng, sự cọ xát với văn hóa toàn cầu khiến VHNT Việt Nam dễ rơi vào hai cực đoan: hoặc quá sa đà vào bản địa tính cũ kỹ, bảo thủ; hoặc mất phương hướng, chạy theo thị hiếu nước ngoài.
Áp lực thị trường khiến một số sản phẩm VHNT chạy theo thị hiếu thấp, làm mờ nhạt giá trị tư tưởng và nghệ thuật, tác phẩm nông, hời hợt, thiếu chiều sâu nội dung, tính triết lý, giá trị văn học, nghệ thuật chưa cao.
Một số tác phẩm văn học mạng, phim thị trường, ca khúc “trending” thiếu chiều sâu, xa rời giá trị nhân văn, chỉ thỏa mãn được thị hiếu một số nhóm công chúng.
Đội ngũ nghệ sĩ trẻ tài năng tuy đông đảo, nhưng chưa có sự dẫn dắt đồng bộ từ các thế hệ đi trước. Nhiều nghệ sĩ rơi vào tình trạng tự phát, thiếu định hướng tư tưởng và thẩm mỹ, trong khi nghệ sĩ cao niên khó tiếp cận công nghệ mới.
Sự xâm nhập của văn hóa ngoại nhập, nội dung số xuyên biên giới đặt VHNT đứng trước nguy cơ bị lấn át, sao chép, đồng hóa. Việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác và tiêu thụ nghệ thuật trở nên cấp bách.
Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy có độ trễ đáng kể giữa các chủ trương, chính sách và thực tiễn phát triển mạnh mẽ của VHNT. Các quy định, mô hình quản lý truyền thống chưa bắt nhịp được với đặc thù sáng tạo mới, khiến không gian phát triển của văn học, nghệ thuật vẫn còn không ít ràng buộc và bị động.
Để giữ được bản sắc trong dòng chảy hội nhập
Vấn đề lớn trong phát triển VHNT hiện nay là làm sao “hội nhập mà không hòa tan”, giữ được linh hồn dân tộc giữa dòng chảy thẩm mỹ quốc tế.

Hội thảo khoa học “Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30.4.1975-30.4.2025) do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (Bộ VHTTDL) tổ chức
Bởi lẽ chỉ khi có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, mạnh dạn thử nghiệm, quyết tâm đi lên từ lợi thế, nguồn mạch dân tộc, từng bước vươn ra thế giới thì VHNT Việt Nam mới có thể khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế.
Theo PGS.TS Lê Thanh Bình, để VHNT Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh vượt bậc trong “kỷ nguyên vươn mình”, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Xây dựng chính sách văn hóa dài hạn, đầu tư đúng mức cho sáng tạo nghệ thuật, nhất là nghệ thuật có chiều sâu.
Đổi mới giáo dục nghệ thuật trong nhà trường các cấp từ phổ thông, đại học, sau đại học, giúp hình thành lớp công chúng có năng lực thưởng thức và yêu VHNT từ nhỏ tuổi.
Tiếp tục khẳng định mục tiêu lâu dài là: Xây dựng nền VHNT dân tộc, sáng tạo, nhân văn, hiện đại, hội nhập.
“Cần nhận thức sâu sắc trong toàn xã hội về vai trò của VHNT trong phát triển con người và xã hội. VHNT phải gắn với nhiệm vụ xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ mới, vừa bảo tồn truyền thống vừa cập nhật xu hướng hiện đại”- PGS.TS Lê Thanh Bình chia sẻ.
Theo PGS.TS Lê Thanh Bình, để VHNT Việt Nam tiếp tục vận động đúng quy luật, phát triển vượt bậc lên những tầm cao mới, phải sớm có các giải pháp đồng bộ.
Theo đó, sau khi thực hiện sáp nhập bộ ngành, địa phương, tinh giản biên chế, bộ ngành chức năng liên quan lĩnh vực VHNT cần được nhấn mạnh các chức năng về chính sách VHNT, xây dựng chiến lược phát triển không chỉ theo nhiệm kỳ 5 năm hoặc thời kỳ 10 năm mà phải là chiến lược dài hạn tầm 45-50 năm rồi phân ra các chiến lược và lộ trình thành phần mới bảo đảm tầm nhìn dài, rộng, bài bản.
Cần gỉam bớt các Hội hoạt động kiểu hành chính sự nghiệp, tăng cường chức năng tổ chức sáng tác, đưa tác phẩm VHNT dự thi tại các giải khu vực và quốc tế.
Việc phát hiện, đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, tôn vinh cũng cần cải tiến để phù hợp với giai đoạn mới, đòi hỏi thực chất hơn, công bằng hơn, kịp thời hơn.
Đẩy mạnh số hóa, tạo các nền tảng truyền thông - xuất bản giúp nghệ sĩ đưa sản phẩm tới công chúng dễ dàng hơn, đồng thời bảo tồn di sản một cách sống động. Tạo cơ chế cho nghệ sĩ độc lập, giảm thiểu kiểm duyệt hành chính máy móc, tăng không gian sáng tạo.
Tăng cường đầu tư và cơ chế bảo trợ cho nghệ thuật. Tạo hành lang pháp lý, đầu tư tài chính, đào tạo nguồn nhân lực để phát triển VHNT.

Nên chú trọng phát triển chọn lọc một số lĩnh vực thuộc VHNT để tăng lợi nhuận và “sức mạnh mềm” của văn hóa dân tộc
Xây dựng các quỹ sáng tạo, vườn ươm tài năng, và các trung tâm ứng dụng công nghệ cao. Tập trung nguồn lực, nhất là đội ngũ giảng dạy có bằng cấp cao, nhiệt huyết (gồm cả nghệ nhân giỏi đang giữ bí quyết sáng tạo những tác phẩm VHNT dân tộc đặc sắc).
Mặt khác, nên chú trọng phát triển chọn lọc một số lĩnh vực thuộc VHNT để tăng lợi nhuận và “sức mạnh mềm” của văn hóa dân tộc, sử dụng một phần lợi nhuận để gây Quỹ văn học, nghệ thuật hoặc đầu tư cho người tài trong sáng tác tác phẩm VHNT giá trị cao.
Giáo dục thẩm mỹ, văn hóa, nghệ thuật trong học đường các cấp cần được đổi mới toàn diện, kịp thời, phù hợp thời đại và lợi thế văn hóa dân tộc. Công tác lý luận - phê bình phải bắt kịp thực tiễn sáng tạo, khơi dậy tinh thần tranh luận học thuật tích cực.
Ngoài ra, chủ động hội nhập quốc tế có chọn lọc. Tăng cường xuất khẩu tác phẩm VHNT Việt ra thế giới thông qua dịch thuật, triển lãm, giao lưu, hợp tác đa phương, song phương và khuyến khích chính các nghệ sĩ, nhà sáng tác, nhà quản lý văn học, nghệ thuật, nhà đầu tư… giao lưu với đối tác nước ngoài, thúc đẩy các hợp tác chuyên môn, phổ biến tác phẩm hiệu quả.