Về Bản Chang nghe rừng và nước kể chuyện

Qua hết Đèo Gió, con đường dẫn vào hồ Bản Chang nhỏ dần dưới những tán cây xanh rợp bóng. Xe đi chậm lại giữa mùi đất ẩm và tiếng gió lùa qua rừng thông. Hồ Bản Chang chỉ cách Quốc lộ 3 chưa đầy 2km, nhưng khi đặt chân đến đây du khách cảm giác như vừa bước sang một nhịp sống khác.

Hồ Bản Chang hiện lên thơ mộng mang vẻ đẹp yên bình của vùng cao Ngân Sơn.

Hồ Bản Chang hiện lên thơ mộng mang vẻ đẹp yên bình của vùng cao Ngân Sơn.

Điểm dừng chân bình yên

Buổi sáng ở hồ Bản Chang (xã Ngân Sơn) bình yên đến nỗi nếu nhắm mắt có thể nghe được cả tiếng gió đang reo vui. Mặt hồ rộng gần 40ha nằm nép giữa những đồi thông xanh ngắt, phẳng lặng như một tấm gương dài. Ven hồ, dưới một khoảng sân nhỏ, cô gái trẻ Doanh Hồng Na đang lúi húi nhóm lại bếp than. Mấy vị khách nước ngoài vừa đi dạo về, ngồi quanh chiếc bàn gỗ uống trà nóng.

Na kể với chúng tôi một câu chuyện thú vị: Có một vị khách người Nga ăn rau rừng xong liền hỏi “Rau này tên gì vậy?”. Na đáp: “Rau lười”. Anh khách ngẩn ra mất mấy giây rồi bật cười: “Ở nước tôi gọi là organic cao cấp, còn ở đây đặt tên đúng... tâm trạng.”

“Rau lười” cái tên nghe qua hài hước, nhưng đây là cách người dân gọi những loại rau mọc tự nhiên trong rừng, nghĩa là không phải bón phân, không thuốc, cũng chẳng cần chăm nhiều, mưa xuống rau cứ thế mà xanh lên. Kết thúc câu chuyện, Na hào hứng: Người dân quanh hồ ăn quen nên thấy bình thường. Giờ khách dưới xuôi với khách Tây lại thích nhất.

Cô gái nhỏ Doanh Hồng Na là chủ của NaNa Farm, một điểm dừng chân ven hồ được nhiều người trẻ tìm đến thời gian gần đây. Tâm sự về những ngày đầu “khởi nghiệp”, giọng Na nhẹ nhàng: Năm 2023, em bắt đầu dựng những góc nghỉ đầu tiên bên hồ. Ban đầu chỉ là vài bộ bàn ghế, vài món ăn nhà làm, ít chỗ cắm trại theo nhu cầu của khách...

Một vị khách nước ngoài thích thú thưởng thức “rau lười” – món rau rừng dân dã mang dấu ấn riêng của Bản Chang.

Một vị khách nước ngoài thích thú thưởng thức “rau lười” – món rau rừng dân dã mang dấu ấn riêng của Bản Chang.

Khách nước ngoài đến đây đặc biệt thích cảm giác an yên mà Bản Chang mang lại. Họ không cần nhiều dịch vụ. Có người chỉ ngồi bên hồ cả buổi chiều, có người thích đi hái rau, nhặt củi, nấu ăn. Họ bảo ở đây có cảm giác như đang được sống một cuộc sống khác. Đưa đôi mắt trong veo nhìn về phía mấy cô đang rửa rau phía sau bếp, Na cười: Các cô quanh bản giờ cũng quen với khách rồi. Gặp khách nước ngoài là giơ tay vẫy chào vui lắm.

Na kể cho tôi nghe về sự thay đổi của người dân quanh hồ. Trước đây, họ chủ yếu sống nhờ rừng, làm nương, trồng cây lâm nghiệp. Hồ Bản Chang khi ấy chỉ là mặt nước quen thuộc của người địa phương. Nhưng vài năm gần đây, khi khách bắt đầu tìm đến nhiều hơn, cuộc sống quanh hồ cũng dần thay đổi.

Có gia đình làm bánh, đồ ăn địa phương để bán cho khách cuối tuần. Có người mang măng rừng, rau rừng, hồng ngâm, hạt dẻ sang gửi ở farm. Những phụ nữ từng chỉ quen việc nương rẫy giờ biết làm thêm xôi ngũ sắc, gà nướng, cơm lam.

Nhưng sự thay đổi lớn nhất, theo Na là nhiều người tự giác dọn dẹp hơn. Những khoảng rừng thông quanh hồ cũng được giữ gìn cẩn thận hơn trước. Người dân bắt đầu hiểu rằng khách tìm đến đây vì sự sạch sẽ, yên tĩnh và màu xanh này.

Hồ vẫn sạch, rừng vẫn xanh

Buổi chiều, chúng tôi đi dọc một triền thông ven hồ. Gió từ mặt nước thổi lên mát lạnh. Xa xa, vài chiếc lều cắm trại bắt đầu sáng đèn. Sau sáp nhập tỉnh, hồ Bản Chang đón thêm nhiều khách mới, một năm trở lại đây, NaNa Farm đã phục vụ khoảng 6.000 - 7.000 lượt khách, đông nhất vào dịp cuối tuần và lễ. Khách Tây tăng khá nhiều nhờ mạng xã hội và truyền miệng.

Những buổi tụ họp, giao lưu bên hồ tạo nên không khí gần gũi, kết nối giữa du khách và người dân địa phương.

Những buổi tụ họp, giao lưu bên hồ tạo nên không khí gần gũi, kết nối giữa du khách và người dân địa phương.

Dẫu vậy, du lịch ở Bản Chang vẫn còn rất mới, nhiều dịch vụ mặt nước chưa thể triển khai nên khách chủ yếu nghỉ dưỡng, cắm trại, trải nghiệm đời sống địa phương. Nhân lực cũng ít. Có thời điểm Na gần như tự xoay xở mọi việc từ nấu ăn, dọn phòng tới đón khách.

Rồi cô chợt nói nhỏ hơn: Nhưng em vẫn muốn làm chậm. Điều em mong là nơi này phát triển vừa phải, để người dân có thêm thu nhập nhưng vẫn giữ được rừng, giữ được hồ và nhịp sống vốn có.

Tôi gật đầu. Đây chính là trăn trở lớn nhất của du lịch bền vững, làm sao để phát triển nhưng không phá vỡ? Làm sao để có khách nhưng không mất đi cái hồn của vùng đất? Và nghe Na nói, tôi thấy an lòng hơn, vì nơi đây có những người trẻ như cô, những người yêu quê hương đến nỗi sẵn sàng “làm chậm” để giữ lại những gì đáng giá nhất.

Trời tối rất nhanh ở Bản Chang. Bên hồ, mấy đứa trẻ vẫn chạy chơi dưới hàng thông. Trong gian bếp nhỏ, Na lại lúi húi chuẩn bị thêm đồ ăn cho đoàn khách đến muộn. Khói bếp bay lên chậm giữa tiết trời se lạnh.

Trước lúc chia tay, Na còn kể như sợ tôi quên mất Bản Chang ở mùa khác. Mùa xuân ở đây hoa mận nở trắng ven rừng, sáng sớm có sương phủ ngang mặt hồ. Hè tới lại là mùa rau rừng, mùa mận chín, chiều ngồi nghe gió đi qua rặng thông cũng thấy nhẹ người. Thu có lúa vàng, hạt dẻ rừng, hồng ngâm. Đông về, khách thích nhất là ngồi bên bếp than, nướng khoai, ăn nồi lẩu rau nóng hổi trong cái lạnh vùng cao.

Na cười bảo: Mùa nào ở đây cũng có cái vui riêng, chỉ là mình chịu ngồi chậm lại một chút thôi. Những điều giản dị ấy, hóa ra lại trở thành thứ nhiều người thành phố đang đi tìm.

Trên đường trở ra, tôi cứ nhớ câu nói của Na lúc đứng bên hồ. Cô bảo chỉ mong sau này khách đông hơn, người dân quanh đây có thêm việc làm, thì hồ vẫn sạch, rừng vẫn xanh như bây giờ.

Bích Phượng

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-hoa/du-lich-thai-nguyen/202605/ve-ban-chang-nghe-rung-va-nuoc-ke-chuyen-4350b98/