Về Thống Nhất nghe nông dân kể chuyện cây chè xanh xóa đói
Làng chè xanh Thống Nhất nức tiếng tại xã Lương Sơn, tỉnh Nghệ An bao năm nay gồng gánh nhiều gia đình băng qua ngày tháng cơ hàn, gian nan nơi vùng đất khó.
“Đệ nhất chè xanh" xứ Nghệ
Nắng vàng cuối thu phủ lên những đồi chè xanh ngút ngàn trải dài tưởng như bất tận nơi thôn Thống Nhất. Những người nông dân hồn hậu xứ núi đón chúng tôi lúc trưa muộn, ngồi bên bát nước chè chát nặng nghĩa quê nhà giọng trầm lắng kể chuyện đời, cơ duyên gắn bó với cây chè xanh từ những ngày đầu khai hoang mở đất.
“Chè xanh thời điểm mới lên xứ này lập làng được trồng quanh nhà để nấu nước uống. Rồi người làng phát hiện vị ngon hết sức khác biệt nhờ hợp thổ nhưỡng, khí hậu. Giờ thì chè xanh Thống Nhất đã nức tiếng xa gần, nông dân nơi đây tự lúc nào đã trở thành những người trồng chè chuyên nghiệp”, ông Cao Bá Dung, một người dân bản địa nói.


Bà Võ Thị Hồng hơn 4 thập kỷ gắn bó với nghề trồng chè xanh
Những người nông dân làng Thống Nhất trải lòng, điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm canh tác đặc sắc là điều tạo nên hương vị đặc trưng riêng có của chè xanh nơi đây. Họ sau những ngày mưa trắng trời nơi dải đất khắc nghiệt miền Trung lại thường rủ nhau vào rừng hái vọt, một loài cây họ dâu tằm mọc tự nhiên, rồi đưa về ủ quanh gốc chè. Lớp phủ này có nhiều công dụng, ngoài giữ ẩm những ngày nắng nóng, còn bổ sung nguồn hữu cơ tự nhiên để cây chè sinh trưởng khỏe.
“Đó là điểm khiến chè xanh Thống Nhất khác biệt, bên cạnh việc được trồng trên những đồi cao đất đỏ. Thời tiết khắc nghiệt khiến cây chè dù phát triển chậm nhưng lá nhỏ, dày, giòn, hương vị đậm đà. Tháng 10 đến tháng 2 là thời điểm nước chè đạt hương vị ngon nhất bởi ảnh hưởng của thời tiết lạnh sâu”, bà Võ Thị Hồng cho hay.


Điều kiện tự nhiên kết hợp kinh nghiệm canh tác đặc biệt là điều tạo nên hương vị đặc trưng riêng có của chè xanh Thống Nhất
"Chè Thống Nhất cành ngắn, lá dày, xanh đậm. Nước khi pha lên không xanh như các loại chè thông thường, mà có màu vàng chanh, pha đến tận nước thứ ba vẫn giữ được màu sắc và vị thơm ngon. Nhấp một ngụm chè, có cảm giác chát nhẹ đậm đà, nhưng hậu ngọt sâu lắng, rất đặc trưng, không lẫn vào đâu được" - Bí thư kiêm xóm trưởng Thống Nhất, ông Nguyễn Văn Vinh nhấp bát chè chát đậm vị thôn quê, ánh mắt hào sảng nhìn vào khoảng xa, cất lời.
“Cần câu cơm” gồng gánh nhiều thế hệ gia đình
Xóm Thống Nhất được thành lập năm 1994. Những người làng Đông Trung (xã Đông Sơn, huyện Đô Lương cũ) trước đó đã in dấu những bước chân đầu tiên lên vùng đất này vào những năm 1964 trong quá trình khai hoang mở đất. Từ cây chè, nhiều gia đình đã băng qua những tháng ngày gian nan thuở hàn vi, dựng xây cảnh nhà, nuôi con khôn lớn.

Ông Nguyễn Văn Vinh - Bí thư kiêm xóm trưởng Thống Nhất, cùng ông Cao Bá Dung, một người có thâm niên trồng chè tại địa phương
Khi chúng tôi đến, ông Trần Đức Hải cùng vợ, bà Nguyễn Thị Hợi, đang ngồi tựa cửa bậc thềm, ánh mắt long lanh chất chứa nỗi biết ơn hướng về phía những đồi chè ngút ngàn tưởng trải dài như bất tận ngay trước mặt. Cây chè xanh, bao năm nay là điểm tựa, nguồn thu nhập chính đưa gia đình họ bước qua những ngày tháng khó khăn.
Gia cảnh ông Hải ngày trước gian nan. Từ những buổi ban đầu bỡ ngỡ rồi dần trở thành một người nông dân trồng chè thực thụ, nghề giúp ông bà nuôi 3 người con ăn học, trưởng thành. Trồng rồi bán quanh năm, gia đình ông giờ thuộc một trong những hộ trồng chè quy mô lớn nhất ở thôn Thống Nhất.
Với gia đình bà Võ Thị Hồng, hành trình nuôi 5 người con lớn khôn, giờ đã trưởng thành, yên bề gia thất quả thực chưa bao giờ dễ dàng. Nhà bà tham gia trồng chè thời điểm năm 1981, hiện tại có 8 sào, thuộc diện hộ trồng "có máu mặt" tại địa phương.
"Nên duyên rồi gắn bó với nghề hàng chục năm nay, con cái hiện tại đã ổn định, công việc trồng chè giờ mang lại cho vợ chồng tui nguồn thu hàng tháng đủ để chi tiêu rủng rỉnh “không phải nghĩ” - bà Hồng cười hiền.

Thôn Thống Nhất hiện tại có hơn 150 hộ trồng chè, tổng diện tích khoảng 25 ha. Trên vùng đồi đất cằn sỏi đá nơi xứ núi, nghề trồng chè xanh giờ vẫn tạo ra sinh kế bền vững, như một người bạn son sắt những năm tháng trước đã gồng gánh họ băng qua những ngày tháng gian nan.
