Vị giáo sư 31 tuổi mang trọng trách thời chiến và niềm tin của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Khi mới 31 tuổi, GS Nguyễn Văn Hiệu trở về từ một trung tâm khoa học hàng đầu thế giới và được tin tưởng giao xây dựng Viện Vật lý.

LỜI TÒA SOẠN
Năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ từ bỏ sự nghiệp ở Pháp, trở về phụng sự Tổ quốc theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai thập kỷ sau, nhà khoa học Nguyễn Văn Hiệu trở về từ Liên Xô, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tin tưởng giao trọng trách xây dựng Viện Vật lý khi mới 31 tuổi. Những câu chuyện ấy không chỉ thể hiện khát vọng cống hiến của trí thức Việt Nam mà còn cho thấy tầm nhìn trong phát hiện, tập hợp và trọng dụng nhân tài.
Ngày nay, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của phát triển, bài học ấy càng mang ý nghĩa thời sự. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển, trọng dụng nhân tài, xây dựng môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy năng lực, đóng góp cho đất nước.
Từ những người đặt nền móng cho khoa học nước nhà đến các thế hệ trí thức đang tiếp tục chinh phục những lĩnh vực nghiên cứu mới, câu hỏi xuyên suốt vẫn là: Làm thế nào để thu hút, trọng dụng người tài, biến khát vọng cống hiến thành những thành tựu khoa học phục vụ đất nước?
Qua những câu chuyện về các thế hệ trí thức Việt Nam, tuyến bài 5 kỳ của VietNamNet nhìn lại những bài học trong công tác sử dụng nhân tài, đồng thời gợi mở những vấn đề về cơ chế, chính sách để trí tuệ Việt Nam thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bài 1: GS Trần Đại Nghĩa: Cuộc trở về năm 1946 và trọng trách kiến tạo ngành Quân giới


Năm 1969, khi trở về Việt Nam từ Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna (Liên Xô), Nguyễn Văn Hiệu đã là một giáo sư vật lý lý thuyết có uy tín trong giới khoa học quốc tế. Ông mới 31 tuổi.
Đất nước khi ấy đang trong chiến tranh, điều kiện nghiên cứu vô cùng thiếu thốn. Theo hồi ức của GS.VS Đặng Vũ Minh, một trong những học trò của ông, những ngày đầu Viện Vật lý chưa có trụ sở hoàn chỉnh. Cán bộ phải làm việc trong những căn phòng tạm, có nơi còn là nhà tranh. Người thầy vừa trở về từ Dubna trực tiếp cùng đồng nghiệp kéo dây cáp, nối điện cho phòng làm việc. Hình ảnh ấy có lẽ khó hình dung đối với một nhà khoa học từng nghiên cứu tại trung tâm vật lý nổi tiếng thế giới.
Trước khi trở về, Nguyễn Văn Hiệu có một sự nghiệp khoa học đáng mơ ước. Sinh năm 1938 tại Cầu Đơ, Hà Đông, năm 1956, khi mới 18 tuổi, ông đã tốt nghiệp xuất sắc ngành Vật lý và được giữ lại giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1960, ông được cử sang làm việc tại Dubna, nơi tập hợp nhiều nhà vật lý nổi tiếng và tiến hành những nghiên cứu tiên phong về cấu trúc vật chất, tương tác giữa các hạt cơ bản.
Chỉ sau khoảng hai năm rưỡi, Nguyễn Văn Hiệu đã công bố 12 công trình nghiên cứu về vật lý neutrino. Năm 1963, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ; năm 1964 tiếp tục bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học. Đến năm 1968, ông được công nhận chức danh giáo sư vật lý lý thuyết và vật lý toán.
Ở tuổi 30, nhà khoa học Việt Nam đã có vị trí trong một môi trường nghiên cứu quốc tế, với những điều kiện thuận lợi để tiếp tục theo đuổi các hướng nghiên cứu chuyên sâu.
Nhưng năm 1969, ông trở về Việt Nam.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở lựa chọn của Nguyễn Văn Hiệu mà còn ở cách đất nước đón nhận và sử dụng một tài năng trẻ.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trực tiếp tin tưởng giao ông nhiệm vụ xây dựng và lãnh đạo Viện Vật lý. Ở tuổi 31, ông trở thành một trong những viện trưởng trẻ nhất trong lịch sử khoa học Việt Nam.
Đó không đơn thuần là một quyết định bổ nhiệm cán bộ. Đặt trong hoàn cảnh đất nước đang chiến tranh, khi đội ngũ nghiên cứu còn mỏng, cơ sở vật chất thiếu thốn, việc giao trọng trách cho một nhà khoa học trẻ thể hiện cách nhìn nhận và sử dụng nhân tài: coi năng lực, trình độ và khả năng đảm đương công việc là những yếu tố quan trọng, thay vì chỉ căn cứ vào tuổi đời hay thâm niên.
Niềm tin ấy đi cùng một nhiệm vụ cụ thể: xây dựng đội ngũ, tổ chức nghiên cứu và từng bước hình thành một cơ sở khoa học đủ năng lực tiếp cận những lĩnh vực hiện đại của thế giới.
Năm 1970, tại một hội nghị vật lý quốc tế ở Kiev, những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiệu cùng Viện sĩ A.A. Logunov tiếp tục gây chú ý. Theo các tư liệu về cuộc đời ông, Viện sĩ N.N. Bogoliubov khuyên ông trở lại Liên Xô thêm vài năm để theo đuổi nghiên cứu, bởi những công trình ấy có triển vọng đạt Giải thưởng Lenin.

Vị GS trẻ Nguyễn Văn Hiệu vẫn lựa chọn tiếp tục công việc tại Việt Nam.
Mười sáu năm sau, năm 1986, ông cùng các đồng nghiệp được trao Giải thưởng Lenin về khoa học và kỹ thuật. Điều đó cho thấy việc trở về không đồng nghĩa với từ bỏ nghiên cứu đỉnh cao. Ông tiếp tục duy trì hợp tác quốc tế, đồng thời dành phần lớn tâm sức xây dựng nền khoa học trong nước.

Nếu việc giao một viện nghiên cứu cho Nguyễn Văn Hiệu khi ông mới 31 tuổi thể hiện sự tin tưởng đối với người tài, thì cách ông phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng những nhà khoa học trẻ sau đó lại cho thấy giá trị lâu dài của niềm tin ấy.
Trong hồi ức về người thầy, GS.VS Đặng Vũ Minh, nguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, không chỉ nhớ những ngày đầu cùng dựng Viện Vật lý mà còn nhớ cơ hội học tập, nghiên cứu mà mình được trao.
Năm 1969, khi còn là cán bộ trẻ, Đặng Vũ Minh đã được Viện trưởng Nguyễn Văn Hiệu cử đi đào tạo nghiên cứu sinh. Sau này, ông lần lượt bảo vệ luận án tiến sĩ, tiến sĩ khoa học và trở thành một trong những nhà khoa học đầu ngành của đất nước.
GS Đặng Vũ Minh từng chia sẻ rằng sự trưởng thành trong khoa học của mình gắn liền với sự quan tâm, tạo điều kiện và khích lệ từ GS Nguyễn Văn Hiệu.

Không chỉ một cá nhân, nhiều cán bộ trẻ khác cũng được cử đến Dubna và các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô để học tập, nghiên cứu.
Điều đáng nói là GS Nguyễn Văn Hiệu không chỉ tìm kiếm những người đã thành danh. Ông quan tâm tới những người có tiềm năng, tạo cơ hội để họ tiếp cận tri thức tiên tiến, sau đó trở về đảm nhận nhiệm vụ tại các cơ sở nghiên cứu trong nước.
Một trường hợp khác là GS.TS Nông Văn Hải, nguyên Phó Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học, Viện trưởng sáng lập Viện Nghiên cứu hệ gene.
Theo hồi ức của ông Hải, GS Nguyễn Văn Hiệu đã ủng hộ việc cử ông sang Đức nghiên cứu sinh học phân tử. Khi trở về, ông tiếp tục được tạo điều kiện phát triển chuyên môn. Sau này, khi công nghệ nano trong sinh học mở ra những hướng nghiên cứu mới, người thầy lại khuyến khích học trò tiếp cận lĩnh vực ấy.
Một nhà khoa học giỏi có thể tạo ra những công trình xuất sắc. Nhưng một nhà khoa học biết phát hiện, đào tạo và trao cơ hội cho người khác còn có thể góp phần hình thành cả một thế hệ. Đó cũng là cách nguồn lực trí tuệ được tích lũy, phát triển trong một quốc gia.

Dấu ấn của GS Nguyễn Văn Hiệu không dừng lại ở Viện Vật lý.
Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1975, ông được giao tham gia tổ chức Viện Khoa học Kỹ thuật miền Nam. Những năm tiếp theo, ông tiếp tục đảm nhiệm các trọng trách tại Viện Khoa học Việt Nam và Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, góp phần xây dựng nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới.
Trong chương trình hợp tác vũ trụ Việt Nam - Liên Xô, ông giữ vai trò Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nghiên cứu Vũ trụ Việt Nam, phối hợp cùng GS.VS Trần Đại Nghĩa và các nhà khoa học tổ chức chương trình nghiên cứu phục vụ chuyến bay của Phạm Tuân năm 1980.
Đằng sau chuyến bay lịch sử ấy còn là những nhóm nghiên cứu trong nước chuẩn bị các thí nghiệm khoa học được thực hiện trên quỹ đạo.
Một lĩnh vực khác tưởng như rất xa với vật lý lý thuyết là nghiên cứu lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ những chuyến khảo sát miền Tây sau năm 1975, GS Nguyễn Văn Hiệu tham gia các hoạt động nghiên cứu về Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, trong đó có những vấn đề liên quan đến đất phèn, điều khiển lũ và sinh kế của người dân.
Ông cũng tham gia những cuộc trao đổi khoa học với Thủ tướng Võ Văn Kiệt về cách tiếp cận chủ động kiểm soát, khai thác lợi ích của lũ thay vì chỉ tìm cách ngăn chặn.
Từ nghiên cứu vật lý hạt cơ bản đến tổ chức các nhiệm vụ khoa học phục vụ đời sống, điểm chung trong hành trình ấy là nỗ lực đưa tri thức vào giải quyết những vấn đề đất nước đặt ra.
Khi tuổi đã cao, GS Nguyễn Văn Hiệu vẫn dành tâm sức cho việc xây dựng các cơ sở đào tạo đại học, phát triển những hướng nghiên cứu mới, đặc biệt là khoa học vật liệu và công nghệ nano.
Ông là Hiệu trưởng sáng lập Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, đồng thời có nhiều đóng góp cho quá trình hình thành, phát triển Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội.
Di sản của GS Nguyễn Văn Hiệu vì vậy không chỉ là các công trình nghiên cứu hay những giải thưởng quốc tế. Đó còn là các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và những thế hệ nhà khoa học tiếp tục công việc sau ông.

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội nhiều khóa. Nhưng nhìn lại cuộc đời ông, dấu ấn của một trí thức, một người đảng viên còn được thể hiện qua những lựa chọn và công việc cụ thể.
Được đào tạo ở nước ngoài, ông trở về khi đất nước cần; được trao trọng trách khi tuổi đời còn rất trẻ, ông cùng đồng nghiệp xây dựng cơ sở nghiên cứu; khi có điều kiện tổ chức khoa học, ông tiếp tục phát hiện và tạo cơ hội cho những người trẻ khác.
Câu chuyện ấy gợi mở một vấn đề có ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là công tác cán bộ và chính sách phát triển đội ngũ trí thức. Bài học đó càng có ý nghĩa trong bối cảnh đất nước đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí động lực quan trọng của phát triển.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược.
Đặc biệt, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài nhấn mạnh yêu cầu bố trí đúng sở trường, giao nhiệm vụ lớn, trao quyền tự chủ thực chất, lấy kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo.
Tháng 9/2026, tại lễ kỷ niệm 70 năm Việt Nam tham gia Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, thông tin được công bố cho thấy đến tháng 4/2026 có 48 nhà nghiên cứu Việt Nam đang làm việc tại đây, với độ tuổi trung bình 33,8.
Hơn sáu thập kỷ sau ngày chàng trai Nguyễn Văn Hiệu 22 tuổi đến Dubna, những nhà khoa học trẻ Việt Nam vẫn tiếp tục hành trình tiếp cận tri thức thế giới. Nhưng câu hỏi quan trọng không chỉ là họ sẽ học được những gì hay công bố bao nhiêu công trình. Đất nước sẽ trao cho họ những nhiệm vụ gì, tạo điều kiện ra sao để họ phát huy tài năng và xây dựng những thế hệ khoa học tiếp theo?
Năm 1969, câu trả lời đã từng bắt đầu bằng một quyết định đầy tin tưởng: giao trọng trách xây dựng một viện nghiên cứu cho một giáo sư mới 31 tuổi. Và từ niềm tin ấy, nhiều thế hệ nhà khoa học Việt Nam đã trưởng thành.

Thiết kế: Luyện Phạm
