Vì sao có nhiều cách điều trị ung thư gan nhưng bác sĩ vẫn khó cứu người bệnh?
Ung thư gan thường phát triển trên nền gan đã bị tổn thương do viêm gan mạn tính hoặc xơ gan, khiến việc lựa chọn phương pháp điều trị phức tạp hơn.
"Vạch trần" lý do Việt Nam có tỷ lệ mắc ung thư gan dẫn đầu khu vực
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TS.BS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho biết, bên cạnh tiến bộ điều trị, phát hiện sớm và theo dõi nhóm nguy cơ cao là yếu tố quan trọng để cải thiện cơ hội sống cho người bệnh.
Theo GLOBOCAN 2024, Việt Nam ước tính ghi nhận khoảng 14.500 ca ung thư gan và đường mật trong gan mắc mới, với hơn 13.660 trường hợp tử vong trong năm. Nhóm bệnh này đứng thứ tư về số ca mắc mới, sau ung thư vú, phổi và đại trực tràng, nhưng đứng thứ hai về số ca tử vong do ung thư, chỉ sau ung thư phổi.


Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang phải phẫu thuật cắt phần gan bị u. Ảnh: Thuỳ Dung
GS Khoa phân tích, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ ung thư gan cao tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nguy cơ mắc bệnh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm bệnh lý nền, môi trường, lối sống và chế độ dinh dưỡng, thay vì chỉ do một nguyên nhân riêng lẻ.
Trong đó, viêm gan virus, đặc biệt là viêm gan B và C, là những yếu tố nguy cơ quan trọng. Tình trạng viêm kéo dài có thể gây tổn thương tế bào gan, thúc đẩy xơ hóa, dẫn đến xơ gan và làm tăng nguy cơ hình thành khối u ác tính.
Bên cạnh đó, uống rượu bia kéo dài có thể gây tổn thương gan, làm tăng nguy cơ xơ gan và ung thư. Tiếp xúc với chất độc hại, sử dụng thực phẩm nhiễm độc tố nấm mốc, cùng các biến đổi gene và yếu tố di truyền cũng có thể liên quan đến sự phát triển của bệnh.
Theo giáo sư, gia tăng và già hóa dân số cũng ảnh hưởng đến số ca mắc được ghi nhận. Khi đánh giá xu hướng ung thư gan, cần phân biệt số ca mắc tuyệt đối với tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi để có cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình dịch tễ.

GS.TS.BS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai.
Gan đã tổn thương khiến điều trị phức tạp
Y học hiện có nhiều phương pháp điều trị ung thư gan, từ phẫu thuật, can thiệp tại chỗ, nút mạch, xạ trị đến điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch. Tuy nhiên, theo GS Khoa, có nhiều phương pháp không đồng nghĩa mọi bệnh nhân đều có thể áp dụng hoặc đạt kết quả giống nhau.
“Với một số loại ung thư, nếu khối u còn nhỏ và được điều trị đúng cách, người bệnh có cơ hội khỏi bệnh hoặc sống lâu dài. Trong khi đó, ung thư gan thường xuất hiện trên nền gan đã bị tổn thương bởi viêm gan mạn tính hoặc xơ gan. Điều này khiến việc lựa chọn phương pháp điều trị trở nên phức tạp hơn”, ông nói.
Hiệu quả điều trị phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, mức độ tổn thương gan, thể trạng và khả năng đáp ứng của từng người. Khi ung thư được phát hiện muộn, các lựa chọn điều trị có thể bị hạn chế, tiên lượng thường kém hơn, đồng thời chi phí điều trị trở thành gánh nặng cho người bệnh và gia đình.
Vì vậy, theo chuyên gia, bên cạnh phát triển kỹ thuật mới, cần phát hiện bệnh sớm, đánh giá chính xác giai đoạn và lựa chọn phương pháp phù hợp với từng trường hợp. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng điều trị và tiên lượng của người bệnh.
Theo dõi nhóm nguy cơ cao để phát hiện sớm
Một thách thức khác là việc sàng lọc và theo dõi người có nguy cơ cao chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Theo GS Khoa, kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy việc tổ chức theo dõi có hệ thống, kết hợp khám lâm sàng, siêu âm gan và xét nghiệm máu, có thể hỗ trợ phát hiện những bất thường ở gan.
Tuy nhiên, các phương pháp này cần được bác sĩ chỉ định, đồng thời đánh giá cùng tiền sử bệnh, tình trạng lâm sàng và những kết quả cận lâm sàng liên quan. Việc kiểm tra định kỳ cần đặc biệt được chú trọng ở người mắc viêm gan virus mạn tính hoặc xơ gan.

Bệnh viện Đà Nẵng phẫu thuật cứu sống bệnh nhân ung thư gan vỡ khối u. Ảnh: Bệnh viện Đà Nẵng.
Giáo sư cho rằng Việt Nam cần quan tâm hơn đến việc theo dõi có hệ thống các nhóm nguy cơ cao, thay vì chỉ phát hiện bệnh khi người dân đã xuất hiện triệu chứng. Cùng với đó, phòng ngừa viêm gan virus, điều trị bệnh gan theo chỉ định, hạn chế rượu bia và tránh thực phẩm nhiễm mốc là những biện pháp góp phần giảm nguy cơ tổn thương gan.
“Bên cạnh phát hiện sớm, những tiến bộ trong phẫu thuật, xạ trị, điều trị đích và miễn dịch đang mở thêm cơ hội cho người bệnh. Dù vậy, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, chức năng gan, thể trạng và việc lựa chọn phương pháp phù hợp với từng trường hợp”, GS Khoa nhấn mạnh.
PGS.TS Trần Đình Hà, Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông cho biết, viêm gan virus B và C là những yếu tố nguy cơ quan trọng gây ung thư gan. Người mắc viêm gan virus mạn tính cần chủ động khám định kỳ, kiểm tra chức năng gan và thực hiện các xét nghiệm cần thiết theo hướng dẫn của bác sĩ.
Theo dõi sức khỏe thường xuyên giúp đánh giá tình trạng tổn thương gan, phát hiện xơ gan và những dấu hiệu bất thường nghi ngờ ung thư, từ đó có hướng xử trí kịp thời. Ngược lại, khi bệnh chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn, các lựa chọn điều trị có thể bị hạn chế, tiên lượng cũng kém thuận lợi hơn.
Việc giảm gánh nặng ung thư gan không chỉ dựa vào tiến bộ y học mà còn phụ thuộc vào việc chủ động phòng bệnh của mỗi người. Tiêm vaccine phòng viêm gan B, phát hiện và điều trị viêm gan virus theo chỉ định, hạn chế rượu bia và theo dõi định kỳ ở nhóm nguy cơ cao là những biện pháp quan trọng nhằm giảm nguy cơ tổn thương gan, tạo cơ hội phát hiện ung thư sớm và cải thiện hiệu quả điều trị.


