Vì sao Đức là 'bàn đạp quân sự' quan trọng nhất của Mỹ tại châu Âu?
Lầu Năm Góc tuyên bố sẽ rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức, chỉ vài ngày sau khi Thủ tướng Đức Friedrich Merz cho rằng Washington đang bị Iran 'làm bẽ mặt'. Điều này có ảnh hưởng gì khi Đức đóng vai trò then chốt trong chiến lược quân sự của Mỹ ở châu Âu?

Tổng thống Trump đã quyết định rút bớt binh sĩ tại Đức, vài ngày sau khi Thủ tướng Friedrich Merz nói rằng Iran đang "làm bẽ mặt" Mỹ trong các cuộc đàm phán về việc chấm dứt chiến tranh. Ảnh: Getty Images
Nằm ở trung tâm châu Âu và sở hữu mạng lưới căn cứ quy mô lớn, Đức từ lâu đã trở thành điểm trung chuyển chiến lược giúp Mỹ triển khai lực lượng, hậu cần và các chiến dịch quân sự toàn cầu, từ thời Chiến tranh Lạnh đến các cuộc xung đột hiện đại.
Nhưng ngày 1/5, Bộ Chiến tranh Mỹ cho biết họ sẽ rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức trong bối cảnh căng thẳng leo thang với đồng minh chủ chốt của châu Âu liên quan đến cuộc chiến của Mỹ chống lại Iran.
Trước đó, Tổng thống Donald Trump cho biết một “quyết định” về sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Đức – vốn được coi là một phần quan trọng trong hệ thống phòng thủ của NATO nhưng cũng rất thiết yếu cho việc triển khai sức mạnh của Mỹ trên toàn cầu – sẽ được đưa ra “trong thời gian ngắn tới”.
Dưới đây là tổng hợp của tờ The Guardian (Anh) về lý do Mỹ duy trì hệ thống căn cứ quân sự tại Đức, vai trò của chúng, và vì sao việc ông Trump đe dọa thu hẹp quy mô có thể không mang lại lợi ích cho Mỹ.
Vì sao Mỹ có các căn cứ quân sự tại Đức?
Sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Đức bắt nguồn từ sau Thế chiến II năm 1945. Khi chế độ phát xít đầu hàng, có tới 1,6 triệu binh sĩ Mỹ ở Đức, con số này giảm xuống dưới 300.000 trong vòng một năm, chủ yếu quản lý khu vực chiếm đóng của Mỹ.
Lực lượng Mỹ tiếp tục giảm cho đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi nhiệm vụ chuyển từ phi phát xít hóa sang tái thiết Đức như một lá chắn lại Liên Xô. Các căn cứ trở thành hiện diện lâu dài với sự ra đời của NATO và Tây Đức vào năm 1949.
Ở đỉnh cao Chiến tranh Lạnh, Mỹ vận hành khoảng 50 căn cứ lớn và hơn 800 địa điểm tại Đức, từ các sân bay quân sự khổng lồ và doanh trại cho tới các trạm nghe lén. Nhiều cơ sở đã đóng cửa kể từ khi Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 và Liên Xô tan rã hai năm sau đó.
Trong các thập niên 1960, 1970 và 1980, quân số Mỹ tại Đức thường vượt quá 250.000 người, với hàng trăm nghìn thân nhân sống trong và xung quanh các căn cứ, hình thành những “thị trấn Mỹ” khép kín với trường học, cửa hàng và rạp chiếu phim riêng.
Quy mô và hoạt động của hệ thống căn cứ Mỹ
Theo Trung tâm Dữ liệu Nhân lực Quốc phòng Mỹ, vào cuối năm ngoái, quân đội Mỹ có 68.000 binh sĩ thường trực được phân công tại các căn cứ ở nước ngoài tại châu Âu, trong đó hơn một nửa – khoảng 36.400 người – đóng tại Đức.
Họ được phân bố tại 20 đến 40 căn cứ, bao gồm các trụ sở tại Stuttgart của Bộ Tư lệnh châu Âu và Bộ Tư lệnh châu Phi, nơi điều phối hoạt động của toàn bộ lực lượng quân sự Mỹ trên hai châu lục này.
Năm trong số bảy cơ sở đồn trú của lục quân Mỹ tại châu Âu nằm ở Đức (các đồn còn lại ở Bỉ và Italy). Ngoài Stuttgart, các cơ sở lớn nhất bao gồm căn cứ không quân Ramstein – trụ sở của lực lượng không quân Mỹ tại châu Âu – nơi có 8.500 quân nhân không quân.
Grafenwöhr, Vilseck và Hohenfels, do đồn trú Bavaria quản lý, là một phần của khu huấn luyện quân sự lớn nhất của Mỹ tại châu Âu, trong khi đồn trú Wiesbaden là tổng hành dinh của lục quân Mỹ tại châu Âu và châu Phi. Trung tâm y tế Landstuhl là bệnh viện quân sự lớn nhất của Mỹ bên ngoài lãnh thổ nước này.
Vai trò của các căn cứ đã thay đổi mạnh mẽ kể từ Chiến tranh Lạnh: chúng trở thành các điểm trung chuyển tiền phương và trung tâm hậu cần thiết yếu cho các hoạt động quân sự của Mỹ, triển khai và hỗ trợ các cuộc chiến của Mỹ, bao gồm tại Iraq, Afghanistan và gần đây nhất là Iran.
Những đe dọa của Tổng thống Trump
Tổng thống Donald Trump đã nhiều lần đe dọa về việc giảm lực lượng Mỹ tại Đức. Năm 2020, trong nhiệm kỳ đầu tại Nhà Trắng, dường như tức giận vì chi tiêu quốc phòng thấp của Đức và sự ủng hộ đối với dự án đường ống khí đốt Nord Stream 2, ông Trump đã gọi Đức là “kẻ chây ì” và nói sẽ cắt giảm 1/3 quân số Mỹ tại đây.
Thông báo của ông Trump không đưa ra bất kỳ chi tiết nào và được cho là đã khiến cả Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao Mỹ, chưa kể các đối tác tại Berlin và các quan chức cấp cao của NATO, hoàn toàn bất ngờ. Không ai được thông báo trước về quyết định này.
Kế hoạch của ông Trump là đưa một phần binh sĩ về nước và điều chuyển phần còn lại tới các quốc gia như Ba Lan và Ý. Nhưng kế hoạch này vấp phải sự phản đối từ cả hai đảng trong Quốc hội Mỹ, cùng những trở ngại hậu cần lớn. Tổng thống Joe Biden đã đóng băng kế hoạch này vào tháng 2/2021 và sau đó chính thức hủy bỏ.
Cái giá của việc rút quân đối với Mỹ
Những trở ngại đối với việc cắt giảm lớn quân số Mỹ tại Đức vẫn còn tồn tại.
Anitta Hipper, người phát ngôn về an ninh và đối ngoại của Ủy ban châu Âu, nhận định hôm 29/4, trong khi Mỹ là “một đối tác thiết yếu trong an ninh và quốc phòng của châu Âu”, thì việc triển khai quân Mỹ tại châu Âu “cũng phục vụ lợi ích của chính Mỹ trong vai trò toàn cầu của mình”.
Jeff Rathke của Viện Mỹ - Đức thuộc Đại học Johns Hopkins cũng đưa ra quan điểm tương tự, cho rằng Mỹ hưởng lợi rất lớn từ việc duy trì sự hiện diện tiền phương tại các căn cứ như Ramstein, nếu không nhiều hoạt động của họ sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
“Lực lượng Mỹ tại châu Âu không phải là một sự đóng góp từ thiện cho những người châu Âu vô ơn – đó là công cụ để Mỹ vươn tầm sức mạnh quân sự toàn cầu”, ông Rathke nói. Thỏa thuận, nói ngắn gọn, là: Mỹ giúp bảo vệ châu Âu; châu Âu cung cấp hạ tầng cho các hoạt động quân sự toàn cầu của Mỹ.
Về nguyên tắc, quân đội Mỹ có thể điều chuyển lực lượng trong châu Âu: hiện có khoảng 13.000 quân tại Italy, 10.000 tại Anh và 4.000 tại Tây Ban Nha. Tuy nhiên, theo Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng năm 2026, tổng số này không được giảm xuống dưới 75.000.
Nhưng các nhà phân tích quốc phòng lưu ý rằng việc cắt giảm đáng kể nhân sự tại các căn cứ như Stuttgart và Ramstein – vốn đã được phát triển qua nhiều thập kỷ thành những trung tâm chiến lược quan trọng cho hoạt động của Lầu Năm Góc – sẽ gây tổn thất lớn đối với khả năng triển khai sức mạnh quân sự toàn cầu của Mỹ.











