Vì sao Fed cần được tự quyết chuyện lãi suất?

Lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến tiền gửi, khoản vay, chi tiêu và đầu tư. Vì vậy, Fed cần có đủ quyền tự chủ để đưa ra quyết định dựa trên mục tiêu kinh tế dài hạn.

Tác giả: Ben S. Bernanke/NXB Thế Giới-Omega Plus Books

Chính sách tiền tệ thế kỷ 21

Cuốn sách mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan về các chính sách của FED cùng những thách thức và thay đổi trong nền kinh tế mà họ phải đối mặt như lạm phát, rủi ro, tài chính và cách vượt qua để giữ kinh tế Mỹ giữ vững vị trí hàng đầu trên thương trường thế giới.

Vì sao Fed cần được tự quyết chuyện lãi suất?

Lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến tiền gửi, khoản vay, chi tiêu và đầu tư. Vì vậy, Fed cần có đủ quyền tự chủ để đưa ra quyết định dựa trên mục tiêu kinh tế dài hạn.

Fed thường được xem là cơ quan độc lập. Điều này không có nghĩa là Fed hoàn toàn tự chủ, không chịu trách nhiệm giải trình, hoặc tách biệt khỏi chính trị. Trái lại, Fed là sản phẩm của hệ thống chính trị. Quyền hạn và cấu trúc của Fed - hay chính sự tồn tại của Fed - được quy định bởi đạo luật Dự trữ Liên bang, mà Quốc hội có thể sửa đổi bất kỳ lúc nào.

Các thành viên FRB là chính trị gia được bổ nhiệm, chủ tịch và các nhà lãnh đạo khác của Fed thông tin cho các nhà lập pháp về hành động và kế hoạch của Fed thông qua lời khai, báo cáo chính thức, và liên hệ cá nhân. Như trong cuộc họp báo cuối cùng với tư cách là chủ tịch Fed, khi được hỏi lời khuyên dành cho người kế nhiệm, tôi nói: “Quốc hội là sếp của chúng ta.”

Vì ảnh hưởng đối với nền kinh tế và hệ thống tài chính - đôi khi là vị cứu tinh, đôi khi là vật tế thần - Fed là chủ đề thu hút sự chú ý của chính giới.

 Một nhà giao dịch đang làm việc, trong khi màn hình phát sóng cuộc họp báo của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Kevin Warsh sau thông báo về lãi suất của Fed ngày 29/7. Ảnh: Reuters.

Một nhà giao dịch đang làm việc, trong khi màn hình phát sóng cuộc họp báo của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Kevin Warsh sau thông báo về lãi suất của Fed ngày 29/7. Ảnh: Reuters.

Tuy bị ràng buộc về mặt chính trị, trên thực tế, Fed vẫn tương đối độc lập. Quốc hội đặt ra mục tiêu cho Fed - như ổn định giá cả và toàn dụng lao động - đồng thời giám sát và yêu cầu trách nhiệm giải trình từ Fed. Tuy nhiên, trên thực tế, Fed từ lâu vẫn được độc lập đáng kể về chính sách, như thiết lập lãi suất và thực hiện các hành động khác nhằm theo đuổi mục tiêu được giao và thường ít bị can thiệp về mặt chính trị.

Không như nhiều quốc gia khác, Mỹ không có luật đảm bảo rõ ràng tính độc lập của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, trên thực tế, tính độc lập về mặt chính sách của Fed được bảo hộ bởi một số điều khoản pháp lý, và nhiều điều khoản trong đó có từ khi Fed vừa thành lập. Các điều khoản này gồm nhiệm kỳ dài hạn của các thống đốc trong FRB, Tổng thống không thể sa thải thống đốc do khác biệt chính sách, và Fed (chịu sự giám sát của Quốc hội) có thể dùng tiền lãi từ trái phiếu do Fed nắm để tự vận hành, thay vì dựa vào ngân sách do Quốc hội tài trợ.

Việc tiếp tục ủng hộ những điều khoản nói trên cho thấy niềm tin lâu đời của hầu hết thành viên Quốc hội và, với một số ngoại lệ - đặc biệt là Trump - của các Tổng thống kể từ sau Nixon, rằng ngân hàng trung ương độc lập mang lại lợi ích cả kinh tế lẫn chính trị. Dấu ấn ở cấp quốc gia của Fed cũng củng cố tính độc lập của cơ quan này. Chủ tịch và HĐQT của các Fed khu vực xây dựng quan hệ chặt chẽ với chính quyền và doanh nghiệp địa phương, những đơn vị bảo vệ quyền tự chủ của Fed trong những thời khắc quan trọng.

Trong tương lai, tính độc lập của Fed đặt ra ít nhất hai câu hỏi. Thứ nhất, với môi trường kinh tế và chính trị ngày nay, liệu tính độc lập về mặt chính sách của Fed có còn hợp lý? Và, cứ cho là hợp lý, liệu Fed có thể bảo vệ tính độc lập đó trước những chống đối chính trị?

 Fed được trao quyền tự chủ trong chính sách tiền tệ nhưng vẫn chịu sự giám sát của Quốc hội Mỹ. Ảnh: Reuters.

Fed được trao quyền tự chủ trong chính sách tiền tệ nhưng vẫn chịu sự giám sát của Quốc hội Mỹ. Ảnh: Reuters.

Tuy học thuyết về tính độc lập của ngân hàng trung ương đã có từ rất lâu, sự đồng thuận hiện tại ủng hộ tính độc lập của Fed càng được củng cố nhờ kinh nghiệm rút ra từ Đại Lạm phát. Những tác động tai hại hiển hiện rõ ràng khi Fed dưới thời của Burns thiếu độc lập với chính quyền Nixon.

Dựa trên kinh nghiệm này, và thành công sau đó của Fed có tính độc lập cao dưới thời Volcker trong việc dập tắt lạm phát, tính độc lập của Fed thường được coi là tường thành chống lại sự cám dỗ của các chính trị gia muốn kích thích quá mức nền kinh tế trong ngắn hạn.

Ý kiến cho rằng ngân hàng trung ương độc lập được trang bị đầy đủ hơn các chính trị gia khi tính đến lợi ích lâu dài của nền kinh tế vẫn còn đúng. Nhưng, ngày nay, lập luận cụ thể rằng cần có tính độc lập để tránh lạm phát quá mức dường như không còn mạnh mẽ. Bất chấp lạm phát leo thang trong quá trình phục hồi sau đại dịch, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ trong thế kỷ 21 thường lo ngại lạm phát quá thấp, thay vì quá cao.

Và, mặc dù áp lực từ chính quyền Trump buộc Fed dưới thời Powell cắt giảm lãi suất trước đại dịch là ngoại lệ đáng chú ý, phần lớn sự chống đối chính trị các ngân hàng trung ương phải đối mặt trong những năm gần đây đến từ những người muốn cơ quan này làm ít đi chứ không phải làm nhiều hơn. Chẳng hạn dân biểu đảng Cộng hòa chỉ trích QE sau khủng hoảng tài chính và Đức phản đối QE của ECB.

Tuy nhiên, còn có lý do khác để Fed tiếp tục độc lập ngoài tránh đi vào vết xe đổ của “kịch bản” Burns-Nixon. Quốc hội có lý do chính đáng - cả về kỹ thuật và chính trị - để tiếp tục ủy thác quyết định về chính sách tiền tệ cho một ngân hàng trung ương độc lập.

Ben S. Bernanke/NXB Thế Giới-Omega Plus Books

Nguồn Znews: https://lifestyle.zingnews.vn/vi-sao-fed-can-duoc-tu-quyet-chuyen-lai-suat-post1685511.html