Vì sao Nhật Bản tiên phong về AI nhưng tụt hậu so với Mỹ và Trung Quốc?
Từng là biểu tượng công nghệ của thế giới nhưng Nhật Bản đang tụt hậu so với Mỹ và Trung Quốc ở lĩnh vực AI về mô hình ngôn ngữ lớn, nền tảng phần mềm và hệ sinh thái công ty khởi nghiệp.
Trên thực tế, Nhật Bản không khởi đầu muộn trong nghiên cứu AI. Truyền thông Nhật Bản thậm chí từng mô tả nước này là tiên phong trong làn sóng AI đầu tiên từ thập niên 1950 đến 1970, với vai trò “đặt nền móng”. Vậy tại sao kể từ đó, Nhật Bản dần đánh mất vị thế trong cuộc đua AI toàn cầu? Những yếu tố mang tính hệ thống nào đang kìm hãm nước này?
Theo Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản, các nhà nghiên cứu nước này đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển AI ngay từ làn sóng đầu tiên trong giai đoạn 1950-1970. Từ thập niên 1960, các trường đại học Nhật Bản đã bắt đầu nghiên cứu xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhận dạng giọng nói và xử lý hình ảnh. Sang thập niên 1970, phạm vi nghiên cứu tiếp tục mở rộng sang xử lý thông tin bằng tiếng Nhật.
Vào những năm 1980, các hệ thống máy tính thiếu khả năng tự động thu thập và tích lũy thông tin. Quá trình nhập kiến thức vào các hệ thống máy tính vô cùng rườm rà, hạn chế việc sử dụng thực tiễn của chúng. Để giải quyết vấn đề này, Nhật Bản đã khởi động một dự án quốc gia năm 1982 mang tên Hệ thống Máy tính Thế hệ thứ năm, với ngân sách khoảng 54 tỉ yên (khoảng 220 triệu USD thời điểm đó). Dự án do Bộ Thương mại và Công nghiệp Quốc tế Nhật Bản dẫn đầu, nhằm mục tiêu phát triển trong vòng 10 năm một siêu máy tính có khả năng tư duy, hiểu lời nói, đọc văn bản, suy luận và học hỏi.
Sáng kiến của Nhật Bản khiến châu Âu và Mỹ lo ngại bị tụt lại phía sau, nên thúc đẩy họ phải nhanh chóng triển khai các dự án tương tự để cạnh tranh.
Do lượng kiến thức khổng lồ phải được nhập thủ công vào hệ thống máy tính và việc quản lý một dự án quy mô lớn như vậy vô cùng khó khăn, kế hoạch đầy tham vọng của Nhật Bản cuối cùng đã không mang lại kết quả như mong đợi. Nó đã bị chấm dứt vào năm 1992, sau đó nghiên cứu về AI của Nhật Bản bước vào thời kỳ trì trệ kéo dài.
Giáo sư Mitsuru Ishizuka thuộc Đại học Waseda chỉ ra rằng trong quá trình phát triển internet, công nghệ ngày càng mạnh mẽ hơn thông qua việc sử dụng, liên tục tiến hóa. Chu kỳ "càng sử dụng nhiều, càng mạnh mẽ hơn" chính là chìa khóa thành công của internet. Dự án Máy tính Thế hệ thứ năm đã tạo ra một số kết quả, nhưng vì không được ứng dụng rộng rãi nên “chu kỳ thành công” đó đã không bao giờ thành hiện thực.
Từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000, trong khi Mỹ tiếp tục tiến bước đều trong lĩnh vực AI, Nhật Bản lại đi theo một con đường khác. Sự phổ biến của internet đã tạo ra một cuộc cách mạng công nghệ thông tin toàn cầu, nhưng nhiều nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp Nhật không đánh giá đầy đủ tầm quan trọng của sự chuyển đổi này.
Năm 1995, Mỹ trải qua thời kỳ bùng nổ internet với việc Netscape niêm yết cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), tiếp theo là sự trỗi dậy của Amazon, Google và các công ty khác. Ngược lại, Nhật Bản vẫn bị chi phối bởi tư duy "sản xuất là trọng tâm", đánh giá thấp phần mềm và dịch vụ. Các tập đoàn lớn Nhật Bản tập trung vào thiết bị điện tử tiêu dùng kỹ thuật số và hệ thống nhúng, trong khi bỏ lỡ cơ hội xây dựng các mô hình kinh doanh nền tảng dựa trên internet.
Nhận ra mình tụt lại trong cuộc cách mạng internet, chính phủ Nhật Bản ban hành Luật Cơ bản về CNTT năm 2001 và triển khai Chiến lược e-Japan, đặt mục tiêu đưa Nhật trở thành “quốc gia CNTT tiên tiến nhất thế giới” vào năm 2005. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi vẫn không được giải quyết: Dù cơ sở hạ tầng đã được cải thiện nhưng không tạo ra các dịch vụ hoặc công ty đổi mới có thể tận dụng tối đa lợi thế đó. Nhật Bản rơi vào tình trạng “vỏ có, ruột không”.
Trong giai đoạn này, thất bại của Dự án Máy tính Thế hệ Thứ năm cũng để lại bóng đen kéo dài, khiến ngân sách nghiên cứu AI bị cắt giảm mạnh, buộc nhiều nhà nghiên cứu chuyển sang lĩnh vực khác. Trong khi các trường đại học Mỹ như Stanford và Học viện Công nghệ Massachusetts tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu AI, hoạt động này tại Nhật Bản gần như chững lại.
Ở cấp độ doanh nghiệp, các tập đoàn CNTT lớn Nhật Bản như NTT, Fujitsu và NEC ưu tiên cải thiện hiệu quả các mảng kinh doanh hiện có và phát triển phần cứng mới, thay vì đầu tư mạnh vào AI. Giai đoạn trì trệ đó đã gieo mầm cho sự suy giảm khả năng cạnh tranh về AI của Nhật Bản sau này.
Chỉ vài năm gần đây, nhờ những đột phá của công nghệ học sâu, AI mới thực sự thu hút trở lại sự quan tâm mạnh mẽ tại Nhật Bản. Điều này được thể hiện qua việc chính phủ lần lượt ban hành Chiến lược Công nghệ AI năm 2017, tập trung vào lộ trình công nghệ và phát triển công nghiệp; Chiến lược AI năm 2019, nhấn mạnh việc ứng dụng AI trên diện rộng; Chiến lược AI sửa đổi năm 2022.

Nhật Bản tiên phong trong làn sóng AI đầu tiên từ thập niên 1950 đến 1970 nhưng dần đánh mất vị thế trong cuộc đua trước Mỹ và Trung Quốc - Ảnh: MTG
Thiếu lao động số, rào cản pháp lý cao và dòng vốn thận trọng
Tạp chí The Economist từng nhận xét: “Quê hương của Doraemon về lý thuyết thì chấp nhận công nghệ mới, nhưng trên thực tế lại chưa thực sự triển khai hiệu quả”.
Trên thực tế, Nhật Bản đã ứng dụng AI trong nhiều lĩnh vực. Các công ty xây dựng dùng AI để nâng cao hiệu quả công trường; cửa hàng tiện lợi triển khai nhân viên AI; giới đầu tư công nghệ đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực giao thoa giữa AI và phần cứng - nơi doanh nghiệp Nhật có thế mạnh truyền thống. Tuy nhiên, Masayoshi Son (Chủ tịch SoftBank) từng chỉ trích rằng các công ty Nhật chỉ tập trung vào các hệ thống quy mô nhỏ thay vì nỗ lực xây dựng những gã khổng lồ AI. Kết quả là Nhật Bản đã bỏ lỡ nhiều cơ hội trong cuộc đua AI.
Theo tờ The Japan Times, trong giai đoạn 2019 - 2023, Nhật Bản không công bố mô hình AI quy mô lớn nào, trong khi Mỹ tung ra 182 mô hình và Trung Quốc là 30. Mãi đến năm 2024, Nhật Bản mới có kỳ lân AI đầu tiên là SakanaAI. Các mô hình AI nội địa như OpenCalm và Rinna bị đánh giá kém hơn so với GPT-3.5, phiên bản đã cũ của OpenAI - công ty khởi nghiệp Mỹ đứng sau ChatGPT.
Tại các hội nghị hàng đầu như NeurIPS, tỷ lệ bài báo có tác giả chính là người Nhật giảm từ 7% năm 2012 xuống chỉ còn 2% năm 2023. Nhật Bản cũng chỉ hoàn tất việc loại bỏ đĩa mềm 3,5 inch năm 2024, dù loại đĩa này đã gần như biến mất khỏi thị trường Trung Quốc từ khoảng năm 2010.
Theo Sách Trắng Thông tin và Truyền thông 2025, chỉ 26,7% người dân Nhật từng sử dụng AI tạo sinh trong năm tài chính 2024, so với 81% tại Trung Quốc và 68,8% ở Mỹ. Ở khối doanh nghiệp, chỉ 49,7% công ty có chính sách sử dụng AI, thấp hơn nhiều so với 84,8% tại Mỹ và 76,4% tại Đức. Khi được hỏi lý do không dùng AI tạo sinh, hơn 40% người Nhật Bản được khảo sát cho rằng “không cần thiết trong công việc hoặc cuộc sống hằng ngày”, còn gần 40% nói rằng “không biết cách sử dụng”.
Xã hội Nhật Bản đã và đang tích cực suy ngẫm về những nguyên nhân sâu xa đằng sau sự tụt hậu của nước này trong lĩnh vực AI. Già hóa dân số và tỷ lệ sinh giảm là những yếu tố được nhắc đến thường xuyên nhất. Một mặt, tình trạng thiếu hụt lao động đang thúc đẩy nhu cầu ứng dụng AI. Mặt khác, những hạn chế về nguồn cung nhân tài và sự chấp nhận của xã hội đang kìm hãm sự phát triển của AI. Tờ Nikkei Asia nhận định rằng sự suy giảm dân số trực tiếp dẫn đến tình trạng thiếu hụt "lực lượng lao động kỹ thuật số" cần thiết cho sự tiến bộ của AI.
Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng tỷ lệ ứng dụng AI thấp ở Nhật Bản không thể hoàn toàn chỉ do vấn đề nhân khẩu học. Theo Sách trắng về Thông tin và Truyền thông 2025, ngay cả trong số những người trẻ Nhật Bản từ 20 đến 29 tuổi, tỷ lệ sử dụng AI chỉ đạt 44,7%. Với những người từ 30 đến 39 tuổi, tỷ lệ này chỉ là 23,8%, thậm chí còn thấp hơn cả mức 29,6% được ghi nhận ở nhóm tuổi từ 40 đến 49.
Điều này làm nổi bật vấn đề thiếu giáo dục về AI. Một khảo sát của Ipsos tại 32 quốc gia cho thấy Nhật Bản là nước có tỷ lệ người cảm thấy “bất an” với AI thấp nhất, cho thấy thái độ nhìn chung là cởi mở. Song chỉ 25% người Nhật tin rằng AI sẽ cải thiện nền kinh tế trong 3 đến 5 năm tới, so với 72% tại Trung Quốc. Nhật Bản cũng là quốc gia duy nhất trong khảo sát mà đa số người được hỏi thừa nhận họ không hiểu biết đầy đủ về AI.
Ipsos là một trong những công ty nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận lớn nhất thế giới.

Chỉ 26,7% người dân Nhật từng sử dụng AI tạo sinh trong năm tài chính 2024, so với 81% tại Trung Quốc và 68,8% ở Mỹ - Ảnh: Internet
Đến cuối năm 2024, chỉ có 12 trường đại học tại Nhật Bản thành lập khoa hoặc bộ môn cử nhân độc lập mang tên “khoa học dữ liệu”, và phần lớn chương trình vẫn nặng về thống kê truyền thống. Mỗi năm Nhật Bản chỉ đào tạo khoảng 2.800 thạc sĩ liên quan đến AI, bằng khoảng 1/9 của Mỹ, trong đó 60% tập trung vào các lĩnh vực truyền thống như điều khiển robot.
Theo Giáo sư Kazuo Yamazaki thuộc Đại học Keio, hệ thống giáo dục Nhật Bản vẫn chủ yếu đào tạo kỹ sư, trong khi AI đòi hỏi các nhân lực số có nền tảng liên ngành. Năm 2023, chỉ 18% công ty khởi nghiệp AI tại Nhật Bản có đội ngũ liên ngành, so với 57% tại Thung lũng Silicon (Mỹ). Khoảng 12% nhà nghiên cứu AI của Nhật Bản được các công ty tại Thung lũng Silicon tuyển dụng trong năm 2023, trong đó 40% là nhân tài dưới 35 tuổi.
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) dự báo đến năm 2030, nước này có thể thiếu gần 800.000 kỹ sư phần mềm. Trong khi đó, Mỹ và Trung Quốc có thị trường lao động công nghệ sôi động, mức lương cao và khả năng thu hút nhân tài toàn cầu, giúp họ nhanh chóng mở rộng quy mô phát triển AI nền tảng.
Nikkei Asia cũng chỉ trích việc triển khai hạ tầng số tại Nhật Bản là “chậm như ốc sên”. Dữ liệu của METI cho thấy 91% doanh nghiệp Nhật chi hơn 90% ngân sách CNTT để duy trì các hệ thống cũ, thay vì phát triển công nghệ mới, gây cản trở việc triển khai AI.
Bên cạnh đó, rào cản pháp lý và dữ liệu cũng rất đáng kể. Luật Bảo vệ Thông tin Cá nhân của Nhật Bản thuộc nhóm nghiêm ngặt nhất thế giới, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện các bước “thông báo, xin đồng ý và lưu hồ sơ” khi xử lý dữ liệu người dùng. Điều đó gây khó khăn cho việc xây dựng bộ dữ liệu huấn luyện quy mô lớn.
Ví dụ, hệ thống ECG-AI do Bệnh viện Đại học Tokyo và Fujitsu cùng phát triển đã được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng có khả năng dự đoán nguy cơ đau tim trước 48 giờ. Tuy nhiên, do luật pháp Nhật Bản yêu cầu ẩn danh nghiêm ngặt dữ liệu bệnh nhân, phần lớn thông tin nhận dạng trong dữ liệu huấn luyện đã bị loại bỏ, làm giảm khả năng khái quát hóa của mô hình.
Về đầu tư, Báo cáo AI Index 2024 của Đại học Stanford cho biết trong năm 2023, đầu tư tư nhân cho AI tại Nhật chỉ khoảng 700 triệu USD, so với 67,2 tỉ USD tại Mỹ và 7,8 tỉ USD tại Trung Quốc. Theo Hiệp hội Đầu tư Mạo hiểm Nhật Bản, chưa đến 10% vốn đầu tư AI tư nhân tại Nhật Bản được rót vào các mô hình nền tảng. Sự thận trọng này bắt nguồn từ tâm lý ngại rủi ro của cả người tiêu dùng lẫn doanh nghiệp, khiến thương mại hóa AI diễn ra chậm, thời gian hoàn vốn dài, qua đó tiếp tục làm giảm sức hút với nhà đầu tư.
“Cần phải thay đổi tư duy một cách khẩn cấp”
Tại Nhật Bản, cũng có những tiếng nói lạc quan về sự phát triển AIcủa đất nước. Tờ Japan Times đưa tin “Nhật Bản đã có đầy đủ điều kiện cần thiết để trở thành quốc gia dẫn đầu về AI nhưng cần phải thay đổi tư duy một cách khẩn cấp”.
Dù chính phủ Nhật Bản liên tiếp những năm gần đây đều nhất quán bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ với AI, nhưng sự thiếu tin tưởng của công chúng vào chính phủ đồng nghĩa các doanh nhân và doanh nghiệp phải chủ động hơn. Báo cáo đưa ra một số khuyến nghị: Các công ty Nhật Bản nên tận dụng thế mạnh truyền thống của mình để biến những đột phá công nghệ nước ngoài thành sản phẩm và dịch vụ thực tế, đồng thời tích cực mở rộng thị trường nước ngoài. Nhật Bản nên tăng cường đầu tư vào giáo dục AI, học hỏi kinh nghiệm từ các chương trình dành cho học sinh tiểu học và trung học của Trung Quốc để bồi dưỡng thế hệ tài năng tiếp theo. Nhật nên nắm bắt cơ hội từ việc thắt chặt chính sách nhập cư của Mỹ tạo ra để thu hút các kỹ sư phần mềm và nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới.
“Tại sao Nhật Bản liên tục thua Trung Quốc trong lĩnh vực robot?”, tờ Nikkei Asia đặt câu hỏi trong một bài báo hồi tháng 7.2025.
Nikkei Asia lập luận rằng một trong những lý do là chính sách công nghiệp của Nhật Bản thiếu chiến lược quốc gia và tầm nhìn dài hạn. Bài viết đưa ra ví dụ rằng Nhật Bản là quốc gia đầu tiên trên thế giới đề xuất khái niệm “xã hội hydro”, nhưng cách tiếp cận của họ lại tập trung vào việc các công ty tự thúc đẩy sản xuất ô tô chở khách và phụ thuộc vào hydro nhập khẩu. Ngược lại, Trung Quốc coi năng lượng hydro như một công cụ khác để đảm bảo an ninh năng lượng và nhanh chóng trở thành nhà sản xuất hydro lớn nhất thế giới.
Tháng 5.2025, Nhật Bản đã thông qua luật đầu tiên liên quan đến AI mang tên Luật Thúc đẩy Nghiên cứu, Phát triển và Ứng dụng các Công nghệ liên quan đến AI. Việc ban hành luật này đánh dấu việc nâng tầm phát triển AI lên thành một “dự án chiến lược quốc gia”.
Tháng 11.2024, chính phủ Nhật Bản cũng công bố kế hoạch hỗ trợ hơn 10.000 tỉ yên cho các ngành công nghiệp liên quan đến AI và bán dẫn đến năm 2030, nhằm thúc đẩy niềm tin đầu tư tư nhân thông qua cách tiếp cận do chính phủ dẫn dắt. Trích dẫn một quan chức từ METI, hãng tin Kyodo News đưa tin: “Đây là lần đầu tiên chính phủ Nhật Bản áp dụng phương pháp tài trợ dự án trong chính sách công nghiệp”.
Ngoài ra, sáng kiến “Kiểm tra hình ảnh bằng AI cho sản xuất” của METI đã được triển khai, dự kiến tổng giá trị mua sắm sẽ đạt 2.600 tỉ yên từ năm 2025 đến năm 2027. Theo Nikkei Asia, đợt đầu tiên gồm 120 công ty “vô địch thầm lặng” trong lĩnh vực linh kiện sẽ được truy cập miễn phí vào dữ liệu dây chuyền sản xuất của Toyota. Chính phủ Nhật Bản sẽ trợ cấp 30% chi phí liên quan, trong khi Toyota và các hãng lớn khác trong ngành sẽ chi trả 70% còn lại thông qua hình thức mua sắm chung.
Nhật Bản đang theo đuổi chiến lược tập trung vào AI vật lý và hạ tầng công nghiệp, thay vì chạy đua trực tiếp trong mảng mô hình nền tảng. Nước này có lợi thế rất lớn trong robot, cảm biến, linh kiện chính xác, vật liệu bán dẫn, thiết bị sản xuất chip, hệ thống làm mát và cung cấp điện cho trung tâm dữ liệu. Đây đều là những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị AI toàn cầu.
Trong giai đoạn 2025 - 2026, chính phủ Nhật đẩy mạnh các chính sách thu hút đầu tư vào bán dẫn và AI, hỗ trợ xây dựng trung tâm dữ liệu, thúc đẩy hợp tác quốc tế và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng AI trong sản xuất, y tế, logistics và chăm sóc người cao tuổi. Các tập đoàn lớn như SoftBank, Sony, Toyota, NEC và Fujitsu đều công bố chiến lược tăng cường đầu tư vào AI, đặc biệt là các ứng dụng gắn với thế mạnh công nghiệp truyền thống.
Tuy nhiên, các biện pháp này có thực sự giúp Nhật Bản vượt qua những khó khăn hiện tại trong cuộc đua AI để đạt được vị thế dẫn đầu về công nghệ lẫn sự tham gia rộng rãi của xã hội hay không?













