Vì sao phải cấm nhập khẩu điện thoại thông minh đã qua sử dụng?

Cơ quan quản lý cấm nhập khẩu điện thoại thông minh đã qua sử dụng nhằm hạn chế lượng rác thải điện tử phát sinh, cũng như nguy cơ mất an toàn thông tin, rò rỉ dữ liệu cá nhân…

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: MST.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: MST.

Thông tư 63/2026/TT-BKHCN được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành mới đây, quy định danh mục sản phẩm công nghệ số, điện tử đã qua sử dụng bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam, trong đó có điện thoại thông minh, máy tính và nhiều thiết bị công nghệ khác. 

VẪN CÓ CƠ CHẾ ĐỂ NHẬP KHẨU MỘT SỐ THIẾT BỊ BỊ CẤM

Trong bối cảnh quy định thu hút sự quan tâm của dư luận, làm rõ vấn đề này tại Họp báo Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 4/11, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết quyết định cấm nhập khẩu các mặt hàng này xuất phát từ hai yêu cầu chính.

Thứ nhất, để chuẩn hóa và đồng bộ hệ thống pháp luật về công nghiệp công nghệ số và quản lý ngoại thương. 

Đây không phải là quy định mới mà là công việc đã được thực hiện thường xuyên từ năm 2007. Việc ban hành thông tư lần này nhằm cập nhật và đồng bộ các quy định hiện hành. 

Thứ hai, việc ban hành thông tư nhằm bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển thị trường trong nước. Nếu cho phép nhập khẩu tràn lan các thiết bị công nghệ đã qua sử dụng, lượng rác thải điện tử phát sinh sẽ rất lớn. 

Bên cạnh đó, những thiết bị cũ, xuống cấp còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thông tin, rò rỉ dữ liệu cá nhân, thậm chí gây cháy nổ trong quá trình sử dụng, đặc biệt đối với các thiết bị điện thoại.

Tuy nhiên, để hỗ trợ hoạt động sản xuất, nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước, một số loại máy móc, thiết bị cũ vẫn được phép nhập khẩu, chẳng hạn phục vụ sản xuất bán dẫn, nghiên cứu khoa học hoặc mục đích đặc dụng;... theo Thông tư số 26/2025/TT-BKHCN. 

Thông tư 63/2026/TT-BKHCN sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2027, khi đó, Thông tư 11/2018/TT-BTTTT về danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu sẽ hết hiệu lực. 

NHÀ NƯỚC SẼ TẬP TRUNG VÀO NHỮNG NGHIÊN CỨU DÀI HẠN

Cũng tại họp báo, một vấn đề khác được phóng viên đặt ra là giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), trong bối cảnh các chỉ số thuộc trụ cột nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu của Việt Nam trong Bộ chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) còn hạn chế. 

Trao đổi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Phương Mại, đại diện Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, lưu ý một số chỉ số được sử dụng trong bộ GII có độ trễ nhất định do dữ liệu chưa được cập nhật kịp thời, vì vậy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tại thời điểm hiện nay.

Chẳng hạn, chỉ số chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) tính trên GDP trong bộ chỉ số GII hiện đang sử dụng dữ liệu năm 2023, theo đó tỷ lệ của Việt Nam vào khoảng 0,4%. Con số này có thể chưa phản ánh đầy đủ tình hình thực tế tại thời điểm hiện nay.

Dù vậy, đây vẫn là một thách thức lớn nếu Việt Nam muốn đạt được các mục tiêu mà Nghị quyết 57 đã đề ra, đặc biệt trong phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược.

Với mức chi cho nghiên cứu và phát triển toàn xã hội khoảng 0,4% GDP theo dữ liệu năm 2023, trong đó, khu vực doanh nghiệp có đóng góp lớn, với tỷ trọng chi R&D của doanh nghiệp trong tổng chi R&D của Việt Nam chiếm khoảng 50-60%.

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản, chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D cũng như các hoạt động phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Trong đó có các khoản tài trợ trực tiếp để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu, hay chi phí R&D được trừ tối đa 200% chi phí thực tế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp,... 

Đối với lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ chiến lược, Việt Nam cũng đã xây dựng những chính sách tương đối toàn diện, từ phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng đến kết nối hoạt động đầu tư, nghiên cứu giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường.

Nhận định về tình hình đầu tư nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ hiện nay, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho hay doanh nghiệp thường có xu hướng tập trung vào những nghiên cứu ngắn hạn, có khả năng tạo ra lợi nhuận và sớm đưa kết quả vào thương mại hóa.

Đây cũng là một điểm tích cực bởi mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu là tạo ra sản phẩm có thể ứng dụng vào thực tiễn và thị trường.

"Thế thì, Nhà nước sẽ tập trung vào những nghiên cứu dài hạn, nghiên cứu công nghệ lõi để hỗ trợ và bổ sung cho hoạt động nghiên cứu, phát triển của doanh nghiệp", ông Tú nhấn mạnh. 

Theo thống kê trong giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ doanh nghiệp chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia chỉ đạt khoảng 12-15%, với tỷ trọng kinh phí khoảng 25,7% đối với các nhiệm vụ này.

Tại các cuộc họp gần đây về triển khai cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, lãnh đạo Chính phủ đã đặt ra yêu cầu nâng tỷ lệ doanh nghiệp tham gia lên tối thiểu 30%. Đặc biệt, đối với các nhiệm vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia cũng phải đạt ít nhất 30%.

Mục tiêu cuối cùng là tạo ra những sản phẩm thực chất, có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Đây được xem là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và căn cơ để phát triển công nghệ chiến lược.

Bạch Dương

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/vi-sao-phai-cam-nhap-khau-dien-thoai-thong-minh-da-qua-su-dung.htm