Vì sao Việt Nam tăng bậc về đổi mới sáng tạo toàn cầu?
Việt Nam tăng 1 bậc lên vị trí 43 trong GII 2026 - Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu, do WIPO công bố. Đáng chú ý, thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc, trong khi nhiều chỉ số liên quan đến công nghệ và xuất khẩu tiếp tục nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới.

Robot và các công nghệ mới đang mở rộng khả năng ứng dụng, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ảnh: Bộ KHCN.
Đầu ra đổi mới sáng tạo tiếp tục cải thiện
Một trong những yếu tố đáng chú ý trong GII 2026 (Global Innovation Index 2026) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO, là thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng 2 bậc, từ vị trí 37 năm 2025 lên vị trí 35 năm 2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng kết quả này phản ánh hiệu quả trong việc chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra, đặc biệt ở các sản phẩm tri thức và công nghệ.
Việt Nam tiếp tục có thế mạnh ở các lĩnh vực gắn với sản xuất và thương mại công nghệ. Năm 2026, 2 chỉ số Việt Nam đứng đầu thế giới là tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo.
Ba chỉ số khác nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu thế giới gồm tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao, xếp hạng 3; số lượng ứng dụng điện thoại thông minh được phát triển và sử dụng, xếp hạng 5; và tốc độ tăng năng suất lao động, xếp hạng 6.
Những kết quả này góp phần cho thấy năng lực tạo ra và đưa các sản phẩm, công nghệ và kết quả đổi mới sáng tạo vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của Việt Nam đang được cải thiện.
Thay đổi cách tiếp cận về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Một nguyên nhân quan trọng được xác định là sự thay đổi trong cách tiếp cận. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt vào vị trí trung tâm, giữ vai trò trọng yếu trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời gắn lĩnh vực này chặt chẽ hơn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Từ cách tiếp cận đó, Việt Nam tập trung xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, thể chế, tạo nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cho phát triển.
Cùng với đó là sự thay đổi trong tư duy quản lý, từ quản lý nặng về đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra, hướng đến mục tiêu cuối cùng và hiệu quả thực chất.

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố bảng so sánh thứ hạng GII của các nền kinh tế qua các năm 2013, 2019 và 2026, Việt Nam đạt vị trí thứ 43 năm 2026, cải thiện đáng kể so với vị trí thứ 76 năm 2013. Ảnh: WIPO.
GII 2026 ghi nhận sự cải thiện về đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Điều này cho thấy những thay đổi về thể chế, nguồn lực và phương thức quản lý trong thời gian qua đã bước đầu được chuyển hóa thành kết quả đầu ra và tác động đối với kinh tế - xã hội.
Nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển được chú trọng
Một yếu tố khác là việc ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là nghiên cứu và phát triển (R&D).
Việt Nam đồng thời khuyến khích, tạo động lực để doanh nghiệp tăng đầu tư cho R&D và thu hút các dự án đầu tư mới về R&D, công nghệ cao và công nghệ chiến lược.
Trong nhóm các chỉ số được ghi nhận là điểm mạnh, phần chi cho R&D do doanh nghiệp trang trải trên tổng chi R&D của Việt Nam xếp hạng 13 thế giới. Đây là một trong những chỉ số cho thấy vai trò ngày càng được chú trọng của khu vực doanh nghiệp trong hoạt động R&D.
Khu vực đại học cũng có những cải thiện trong hoạt động nghiên cứu và hợp tác với khu vực doanh nghiệp, góp phần tăng sự kết nối giữa nghiên cứu, công nghệ và nhu cầu của nền kinh tế.
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từng bước hình thành
Năng lực sản xuất và xuất khẩu tiếp tục là một điểm mạnh nổi bật của Việt Nam trong GII 2026.
Xuất khẩu công nghệ cao và sản xuất công nghệ cao tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong thương mại và sản xuất công nghiệp. Việt Nam đồng thời tiếp tục dẫn đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo.
Bên cạnh đó, tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao của Việt Nam đứng thứ 3 thế giới. Kết quả này cho thấy nền kinh tế có mức độ tham gia đáng kể vào các dòng sản phẩm và công nghệ cao trong thương mại quốc tế.
Việt Nam cũng được ghi nhận ở chỉ số mức độ đa dạng của sản xuất trong nước, xếp hạng 19 thế giới, và tổng tư bản hình thành, xếp hạng 19.
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng có những kết quả được ghi nhận.
Việt Nam đã có 3 kỳ lân giá trị hàng tỷ USD, đồng thời đã xuất hiện doanh nghiệp khởi nghiệp chuyên sâu trong lĩnh vực khoa học.
Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục có những nỗ lực thu hút các dự án đầu tư nước ngoài mới về R&D và công nghệ cao, qua đó bổ sung nguồn lực và năng lực công nghệ cho nền kinh tế.
Tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân tính trên GDP cũng là một điểm mạnh, xếp hạng 14 thế giới. Đây là một trong những yếu tố về nguồn lực tài chính được ghi nhận trong GII 2026.
Hiệu quả chuyển hóa đầu vào thành đầu ra
Một điểm đáng chú ý trong kết quả GII 2026 là Việt Nam tiếp tục được đánh giá có thành tích đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển.
Việt Nam được WIPO ghi nhận là một trong 3 quốc gia có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển, cùng Trung Quốc và Ấn Độ. Trong 16 năm liên tiếp, Việt Nam có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn mức độ phát triển.
Điều này cho thấy điểm đáng chú ý của Việt Nam không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực đầu vào mà còn ở khả năng chuyển hóa các nguồn lực đó thành kết quả đổi mới sáng tạo.
Đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc trong năm 2026, trong khi thứ hạng chung tăng một bậc lên vị trí 43/139, là một biểu hiện rõ của xu hướng này.
Hướng tới mục tiêu vào top 40 năm 2030
Với vị trí 43/139 trong GII 2026, Việt Nam đã đạt mục tiêu được Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 và tiếp tục đứng thứ 3 trong ASEAN, sau Singapore và Malaysia.
Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đặt mục tiêu chỉ số GII không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới. Xa hơn, Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo.
Để tiến tới các mục tiêu này, Việt Nam được xác định cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng đầu tư cho R&D, thu hút các tập đoàn và công ty lớn nước ngoài hình thành trung tâm R&D, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu, thúc đẩy hợp tác viện - trường - doanh nghiệp.
Cùng với đó là thu hút nguồn vốn cho khởi nghiệp sáng tạo, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ; hình thành các cụm và liên kết đổi mới sáng tạo; phát triển doanh nghiệp công nghệ và tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ công nghệ.
Như vậy, kết quả GII 2026 của Việt Nam được tạo nên từ nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là năng lực sản xuất và xuất khẩu công nghệ cao, sự cải thiện của đầu ra đổi mới sáng tạo, vai trò ngày càng lớn của doanh nghiệp trong R&D, cùng những thay đổi về thể chế, nguồn lực và phương thức quản lý.
3 hạn chế cần sớm cải thiện
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, bên cạnh các điểm mạnh, kết quả GII 2026 cũng chỉ ra những hạn chế.
Thứ nhất, chi cho giáo dục và đào tạo của Việt Nam vẫn còn thấp so với các quốc gia khác. Nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm cán bộ nghiên cứu trong khu vực viện, trường và doanh nghiệp, cũng như lao động có tri thức trong doanh nghiệp, còn thấp.
Thư hai, cơ sở hạ tầng, gồm giao thông, năng lượng, hạ tầng số và bền vững sinh thái, còn hạn chế. Việt Nam cũng chưa thu hút được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm tương xứng cho khởi nghiệp sáng tạo.
Thứ ba, năng lực hấp thụ tri thức từ các doanh nghiệp nước ngoài còn yếu, trong khi hiệu quả thực thi pháp luật chưa cao. Ở đầu ra đổi mới sáng tạo, các kết quả về tri thức như sáng chế, bài báo khoa học chưa được cải thiện tích cực trong những năm qua.
Những điểm hạn chế này cho thấy việc duy trì và cải thiện thứ hạng GII trong thời gian tới sẽ phụ thuộc không chỉ vào việc phát huy các lợi thế hiện có mà còn vào khả năng khắc phục những điểm nghẽn về nhân lực, nghiên cứu, vốn, hạ tầng, thể chế và tạo ra các sản phẩm tri thức.
GII 2026 được tính như thế nào?
GII (Global Innovation Index) là Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu, do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố hằng năm, xếp hạng 139 quốc gia và nền kinh tế.
GII 2026 sử dụng 79 chỉ số, được cấu trúc thành 7 trụ cột, gồm 5 trụ cột về đầu vào đổi mới sáng tạo và 2 trụ cột về đầu ra đổi mới sáng tạo. Nhóm đầu vào phản ánh các điều kiện và nguồn lực tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo, gồm thể chế, nguồn nhân lực và nghiên cứu, cơ sở hạ tầng, mức độ phát triển của thị trường và doanh nghiệp.
Nhóm đầu ra phản ánh kết quả đổi mới sáng tạo, gồm tri thức và công nghệ, sản phẩm sáng tạo.
Hai chỉ số phụ đầu vào và đầu ra có trọng số bằng nhau trong điểm GII tổng thể; điểm GII được tính bằng trung bình cộng của hai chỉ số phụ. Mỗi trụ cột gồm 3 tiểu trụ cột, các chỉ số được chuẩn hóa trên thang điểm 0–100 trước khi tổng hợp thành điểm của từng trụ cột và điểm GII.
Theo Wipo

