Viện kiểm sát khởi kiện, thu hồi hơn 843 triệu đồng cho Nhà nước
Hơn 843 triệu đồng phát sinh từ việc cho thuê lại tài sản công chưa được hoàn trả. VKSND khu vực 5, TP Hồ Chí Minh đã khởi kiện để thu hồi khoản tiền này.

VKSND khu vực 5 làm việc với UBND phường PN. và Công ty Công ích quận PN. về các nội dung liên quan.
Vụ việc liên quan đến 6 mặt bằng thuộc sở hữu Nhà nước đã được thu hồi từ tháng 7/2021, nhưng khoản tiền chênh lệch hơn 843 triệu đồng phát sinh trong quá trình khai thác những tài sản này vẫn chưa được hoàn trả.
Sau quá trình kiểm tra, xác minh và thực hiện các thủ tục theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội, ngày 28/8/2026, VKSND khu vực 5, TP Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định khởi kiện vụ án dân sự công ích, yêu cầu thu hồi khoản tiền trên để nộp ngân sách nhà nước.
Theo hồ sơ vụ việc, Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận P.N. là đơn vị được cơ quan có thẩm quyền giao quản lý, khai thác các mặt bằng thuộc sở hữu Nhà nước tại số 78 Nguyễn Đình Chiểu, 504 Nguyễn Kiệm, 119 Lê Văn Sỹ, 94 Trần Khắc Chân, 94/7 Trần Khắc Chân và 94/9 Trần Khắc Chân, TP Hồ Chí Minh.
Công ty đã ký hợp đồng cho Hợp tác xã Thương mại - Dịch vụ P.T. thuê những mặt bằng này để trực tiếp sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh. Theo thỏa thuận, Hợp tác xã không được tự ý cho tổ chức, cá nhân khác thuê lại khi chưa được công ty đồng ý.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2020, Hợp tác xã không trực tiếp tổ chức kinh doanh theo thỏa thuận mà cho nhiều tổ chức, cá nhân khác thuê lại các mặt bằng, qua đó phát sinh khoản tiền chênh lệch từ việc khai thác tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
Kết luận thanh tra số 526/KL-UBND ngày 31/5/2021 của Chủ tịch UBND quận PN. xác định khoản tiền chênh lệch phải thu hồi, nộp ngân sách nhà nước là 843.427.904 đồng. Trong đó, năm 2018 là 277.219.904 đồng; năm 2019 là 299.808.000 đồng và năm 2020 là 266.400.000 đồng.
Khoản tiền này được xác định trên cơ sở các hợp đồng cho thuê lại, chứng từ thu tiền và những tài liệu kế toán liên quan đến từng mặt bằng.
Thực hiện kết luận thanh tra, Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận P.N. đã hai lần ban hành thông báo yêu cầu Hợp tác xã hoàn trả khoản tiền trên; đồng thời chấm dứt các hợp đồng và thu hồi những mặt bằng từ tháng 7/2021. Dù vậy, sau hơn 5 năm kể từ khi có kết luận thanh tra, số tiền 843.427.904 đồng vẫn chưa được hoàn trả. Đây cũng là khoản tiền được VKSND khu vực 5 xác định liên quan trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước trong quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công.
Sau khi thụ lý vụ việc dân sự công ích, VKSND khu vực 5 đã thu thập hồ sơ, tài liệu từ Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận P.N.; xác minh thông tin đăng ký, địa chỉ trụ sở, người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã P.T.; đồng thời thu thập tài liệu về quá trình quản lý, cho thuê các mặt bằng và việc thực hiện Kết luận thanh tra số 526/KL-UBND.
Ngày 6/8/2026, VKSND khu vực 5 ban hành Quyết định số 03/QĐ-VKS, yêu cầu Hợp tác xã P.T. chấm dứt hành vi vi phạm, áp dụng biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả; hoàn trả 843.427.904 đồng cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận P.N. để thu hồi, nộp ngân sách nhà nước.
Viện kiểm sát đồng thời yêu cầu Hợp tác xã có văn bản trả lời về việc thực hiện trong thời hạn 15 ngày.
Do không thể giao trực tiếp Quyết định cho Hợp tác xã và người đại diện theo pháp luật, VKSND khu vực 5 đã thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định. Hết thời hạn, Hợp tác xã không có văn bản trả lời, không thực hiện yêu cầu khắc phục hậu quả và khoản tiền hơn 843 triệu đồng vẫn chưa được hoàn trả.
Trước tình hình đó, ngày 22/8/2026, VKSND khu vực 5 tiếp tục ban hành Kiến nghị khởi kiện số 03/KN-VKS, kiến nghị Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận P.N. thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công.
Đáng chú ý, công ty đã thống nhất với nội dung kiểm tra, xác minh và kiến nghị của Viện kiểm sát. Trong văn bản phản hồi, Công ty nhìn nhận việc Hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả 843.427.904 đồng kéo dài đã ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và việc thu hồi khoản tiền phát sinh từ quá trình khai thác, sử dụng tài sản công.
Tuy nhiên, do việc khởi kiện đòi hỏi chuyên sâu về chuyên môn, cần nhiều thời gian nghiên cứu, thu thập tài liệu, chứng cứ nên công ty cho biết gặp khó khăn nếu trực tiếp thực hiện các thủ tục tố tụng. Ngày 25/8/2026, Công ty có Văn bản số 108/DVCI đề nghị VKSND khu vực 5 thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công; đồng thời cam kết phối hợp, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ liên quan trong quá trình khởi kiện và giải quyết vụ án.
Ba ngày sau, ngày 28/8/2026, VKSND khu vực 5 chính thức ban hành Quyết định khởi kiện vụ án dân sự công ích về việc “Yêu cầu hoàn trả khoản lợi thu được từ việc cho thuê lại tài sản thuộc sở hữu Nhà nước không có căn cứ pháp luật”.
Trong quyết định, VKSND khu vực 5 xác định việc Hợp tác xã biết rõ mục đích, phạm vi sử dụng tài sản theo các hợp đồng thuê nhưng vẫn tự ý cho thuê lại để hưởng chênh lệch làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ khoản lợi đã thu được. Việc khoản tiền này kéo dài nhiều năm chưa được thu hồi đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước trong quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công, thuộc trường hợp lợi ích công được Viện kiểm sát bảo vệ theo Nghị quyết 205.
Trên cơ sở đó, VKSND khu vực 5 yêu cầu TAND khu vực 5 TP Hồ Chí Minh buộc Hợp tác xã P.T. hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận P.N. số tiền 843.427.904 đồng để Công ty thực hiện thu hồi, hạch toán và nộp ngân sách nhà nước theo kết luận thanh tra và quy định pháp luật.
Bên cạnh khoản tiền gốc, VKS còn yêu cầu kể từ ngày tiếp theo ngày Tòa án ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án cho đến khi thanh toán xong, Hợp tác xã phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Hồ sơ khởi kiện được VKSND khu vực 5 chuẩn bị với hệ thống tài liệu khá đầy đủ, từ kết luận thanh tra, các văn bản xác lập sở hữu Nhà nước, hợp đồng thuê nhà đất, hợp đồng cho thuê lại, chứng từ thu tiền, tài liệu kế toán đến các thông báo đòi hoàn trả, tài liệu chấm dứt hợp đồng, thu hồi mặt bằng và kết quả kiểm tra, xác minh của Viện kiểm sát.
Từ một khoản phải thu tồn tại nhiều năm, trình tự xử lý vụ việc đã chuyển sang một bước mới khi VKSND Khu vực 5 sử dụng quyền khởi kiện được Quốc hội trao theo Nghị quyết 205. Trước khi đưa vụ việc ra tòa, Viện kiểm sát đã lần lượt kiểm tra, xác minh, yêu cầu chủ thể vi phạm tự khắc phục và kiến nghị cơ quan được giao quản lý tài sản thực hiện quyền khởi kiện.
Chỉ khi những giải pháp này chưa đưa khoản tiền trở lại ngân sách và chính đơn vị quản lý tài sản đề nghị Viện kiểm sát đứng ra khởi kiện, quyền năng tố tụng mới được sử dụng.
Việc VKSND khu vực 5, TP Hồ Chí Minh khởi kiện vì thế không chỉ hướng tới thu hồi 843.427.904 đồng cho Nhà nước. Đây còn là bước triển khai cụ thể Nghị quyết 205/2025/QH15 ở giai đoạn mới quan trọng hơn: đưa những vụ việc xâm phạm lợi ích công ra giải quyết bằng con đường tố tụng dân sự, để tài sản công được bảo vệ bằng những kết quả có thể kiểm chứng trong thực tế.
Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về việc “Thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công” có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và được thực hiện trong 3 năm tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh và Đắk Lắk.
Nghị quyết xác định rõ hai nhóm đối tượng trọng tâm mà VKSND được trao quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ, gồm: Nhóm dễ bị tổn thương: Trẻ em; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người mất năng lực hành vi dân sự; Người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Nhóm lợi ích công cần được bảo vệ: Đầu tư công; Đất đai, tài nguyên, tài sản công khác; Môi trường, hệ sinh thái; Di sản văn hóa; An toàn thực phẩm, dược phẩm; Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Các bài viết liên quan Nghị quyết 205 được đăng tải tại: https://baovephapluat.vn/vien-kiem-sat-nhan-dan-bao-ve-loi-ich-cong-nguoi-yeu-the

