Việt Nam – Campuchia hướng tới đích đến 20 tỉ đô la vào năm 2030
Hai nước đang hướng tới mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên mức 20 tỉ đô la Mỹ vào năm 2030 thông qua việc thúc đẩy thương mại chính ngạch, hạ tầng logistics và hiện thực hóa các dự án đường cao tốc kết nối từ các trung tâm kinh tế phía Nam đến hệ thống cửa khẩu quốc tế.

Việt Nam xuất khẩu chủ lực các mặt hàng công nghiệp, tiêu dùng (dệt may, sắt thép, xăng dầu, hóa chất...) sang Campuchia. Ảnh: Quốc Hùng
Định hướng chiến lược này được các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp hai nước thảo luận tại Hội nghị xúc tiến thương mại, thúc đẩy xuất nhập khẩu khu vực miền Nam năm 2026 diễn ra chiều 15-5 tại tỉnh Đồng Tháp, TTXVN đưa tin.
Với chủ đề tập trung vào chuỗi cung ứng và kinh tế biên mậu bền vững, hội nghị đặt ra yêu cầu chuyển dịch mạnh mẽ từ trao đổi hàng hóa đơn thuần sang hình thành các chuỗi cung ứng xuyên quốc gia liên tục, dựa trên nền tảng kết nối giao thông đồng bộ trên toàn tuyến biên giới đất liền dài 1.137 km.
Theo số liệu công bố tại hội nghị, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Campuchia đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhất của hợp tác kinh tế tại Tiểu vùng sông Mekong với tốc độ tăng trưởng liên tục. Cụ thể, kim ngạch thương mại hai chiều của hai nước sau khi đạt 10,1 tỉ đô la Mỹ vào năm 2024 (tăng 17,5% so với năm trước đó) đã tiếp tục bứt phá và vượt mốc 11 tỉ đô la Mỹ trong năm 2025.
Hiện nay, cơ cấu hàng hóa song phương mang tính bổ trợ rõ nét khi Việt Nam xuất khẩu chủ lực các mặt hàng công nghiệp, tiêu dùng (dệt may, sắt thép, xăng dầu, hóa chất...) và nhập khẩu ngược lại nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất như hạt điều, cao su và nông sản thô từ Campuchia.
Để khai thông dòng chảy thương mại và giải quyết các điểm nghẽn về chi phí vận tải, đại biểu hai bên kiến nghị cần tập trung nâng cấp hạ tầng cửa khẩu, thúc đẩy giải pháp thanh toán số và thương mại điện tử xuyên biên giới. Đồng thời, cơ quan chức năng hai nước khẳng định sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận sâu vào các hệ thống phân phối nội địa của nhau, đáp ứng xu hướng chuyển dịch sang các dòng sản phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng của người tiêu dùng khu vực.











