Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển chuỗi giá trị trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi

Vai trò của chuỗi giá trị công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi và sản xuất điện đều rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Đây là khẳng định của ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) tại cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân.

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC). (Ảnh: LÊ CHI)

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC). (Ảnh: LÊ CHI)

Phóng viên: Thưa ông, điện gió ngoài khơi được đánh giá có khả năng tạo ra chuỗi giá trị lớn ngoài sản xuất điện. Theo ông, đâu là những chính sách then chốt để Việt Nam phát triển chuỗi cung ứng và công nghiệp hỗ trợ trong nước?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, điện phải đi trước một bước. Điện gió ngoài khơi, với nhiều nghiên cứu, báo cáo và đặc biệt đã được đề cập trong các nghị quyết của Bộ Chính trị, được xác định là một nguồn năng lượng quan trọng trong thời gian tới. Tuy nhiên, điện gió ngoài khơi không chỉ tạo ra nguồn điện mà còn mở ra cơ hội phát triển một ngành công nghiệp, dịch vụ chiến lược, qua đó giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mỗi dự án điện gió ngoài khơi kéo theo nhu cầu lớn về sản xuất thiết bị, cơ khí chế tạo, cảng biển, logistics, lắp đặt, vận hành và các dịch vụ kỹ thuật.

Việt Nam có nhiều điều kiện để tham gia vào chuỗi giá trị này, trước hết là quy mô thị trường. Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển khoảng 17GW điện gió ngoài khơi vào năm 2035 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Dung lượng thị trường như vậy tạo dư địa để các nhà đầu tư phát triển sản xuất thiết bị, nghiên cứu và phát triển công nghệ.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả quy mô thị trường là tính ổn định và dài hạn của thị trường. Các nhà đầu tư cần nhìn thấy một lộ trình phát triển rõ ràng, với nhu cầu và đơn hàng đủ lớn, ổn định qua từng năm. Đây là yếu tố để họ yên tâm đầu tư vào các cơ sở sản xuất, nghiên cứu và phát triển (R&D) và chuỗi cung ứng trong nước.

Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp, dịch vụ và chuỗi cung ứng nội địa. Đầu tư vào lĩnh vực này đòi hỏi nguồn vốn lớn, vì vậy doanh nghiệp trong nước cần được hỗ trợ về đất đai, thuế, cũng như các cơ chế tạo thuận lợi về thị trường. Nhiều nhà đầu tư cho rằng điều họ cần không nhất thiết là hỗ trợ tài chính trực tiếp, mà trước hết là một hệ thống chính sách thuận lợi, ổn định và đủ sức khuyến khích họ đưa ra quyết định đầu tư dài hạn.

Cảng thi công chân đế điện gió ngoài khơi thuộc Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC). (Ảnh: PVN cung cấp)

Cảng thi công chân đế điện gió ngoài khơi thuộc Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC). (Ảnh: PVN cung cấp)

Đây là những yếu tố then chốt để thúc đẩy ngành công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi tại Việt Nam. Thực tế, chuỗi cung ứng trong nước đã bắt đầu hình thành. Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC) đang đóng vai trò tiên phong và kéo theo sự phát triển của nhiều doanh nghiệp, dịch vụ phụ trợ. Vấn đề hiện nay là làm thế nào để chuỗi này lớn mạnh hơn, đầy đủ hơn và có khả năng tham gia sâu hơn vào các công đoạn của ngành. Trong quá trình đó, vai trò định hướng, xây dựng chính sách và tạo lập thị trường của Nhà nước là rất quan trọng.

Phóng viên: Thưa ông, cảng biển được xem là một trong những mắt xích quan trọng của trung tâm năng lượng tái tạo và đặc biệt là đối với điện gió ngoài khơi. Để hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi, việc kết nối quy hoạch nguồn điện với cảng biển và hạ tầng logistics cần được thực hiện như thế nào?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi gắn với cảng biển. Việc bố trí cảng gần các khu vực phát triển trang trại điện gió sẽ tạo thuận lợi cho vận chuyển, lắp đặt, đồng thời giúp tối ưu chi phí.

Các cảng phục vụ điện gió ngoài khơi cần có độ sâu phù hợp để tàu trọng tải lớn ra vào, quỹ đất đủ rộng và được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, khoảng 20-30 năm hoặc lâu hơn. Vì vậy, quy hoạch các khu vực phát triển điện gió ngoài khơi cần được tính toán đồng bộ với quy hoạch cảng biển, các trung tâm công nghiệp và logistics.

Khi các quy hoạch này được tích hợp, Việt Nam sẽ có điều kiện hình thành một hệ sinh thái công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian triển khai, tối ưu chi phí cho nhà đầu tư và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế.

Phóng viên: Phát triển năng lượng tái tạo trên biển đồng thời đang đặt ra những bài toán về cái cách sử dụng không gian biển. Dưới góc độ là một chuyên gia, theo ông, làm thế nào để hài hòa giữa điện gió ngoài khơi với hàng hải, thủy sản, du lịch, bảo tồn hệ sinh thái cũng như là yêu cầu liên quan đến quốc phòng, an ninh?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy điện gió ngoài khơi và các hoạt động kinh tế biển có thể cùng tồn tại nếu được quy hoạch phù hợp. Chẳng hạn, tại một số quốc gia, các khu vực quanh móng turbine sau khi xây dựng có thể trở thành nơi trú ẩn cho sinh vật biển. Một số nước như Trung Quốc, Anh, Đan Mạch cũng đang nghiên cứu, phát triển mô hình kết hợp điện gió ngoài khơi với nuôi biển, trong đó có việc nuôi cá tại các khu vực phù hợp quanh trang trại điện gió.

Đối với hàng hải, kinh nghiệm từ khu vực Biển Bắc cho thấy nhiều quốc gia như Đức, Đan Mạch, Na Uy và Anh cùng khai thác không gian biển cho nhiều mục đích khác nhau mà vẫn duy trì hoạt động hàng hải phát triển. Điều quan trọng là phải có quy hoạch không gian biển đủ tốt, xác định rõ khu vực dành cho điện gió, hàng hải, du lịch và các hoạt động khác.

Đặc biệt, quốc phòng, an ninh phải được xem là yếu tố then chốt trong mọi hoạt động trên biển. Vì vậy, vai trò của Bộ Quốc phòng trong quá trình quy hoạch không gian biển và phát triển điện gió ngoài khơi là rất quan trọng.

Để giải quyết bài toán này, cần sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan, cùng với một quy hoạch thống nhất và định hướng dài hạn. Khi có sự phối hợp tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển điện gió ngoài khơi đồng thời bảo đảm các yêu cầu về kinh tế biển, môi trường và quốc phòng, an ninh.

Phóng viên: Nghị quyết 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Theo ông, cần làm gì để biến mục tiêu này không chỉ thành những dự án nguồn điện, mà còn trở thành động lực hình thành ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi và đóng góp vào mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh?

Ông Bùi Vĩnh Thắng: Tôi cho rằng Nghị quyết 20-NQ/TW đã mở ra một định hướng rất quan trọng khi đặt điện gió ngoài khơi trong tổng thể chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Mục tiêu 6-10GW vào năm 2030 không chỉ là mục tiêu về công suất nguồn điện, mà còn có thể tạo ra một thị trường đủ lớn để hình thành các ngành công nghiệp và dịch vụ mới trên biển.

Để biến định hướng đó thành hiện thực, trước hết cần nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết bằng một hệ thống cơ chế, chính sách rõ ràng, ổn định và có tầm nhìn dài hạn. Nhà đầu tư cần biết thị trường sẽ phát triển như thế nào, dự án được triển khai theo lộ trình nào và những điều kiện về khảo sát, đầu tư, đấu nối, hạ tầng sẽ được giải quyết ra sao.

Khai thác điện gió ngoài khơi cần gắn liền các ngành kinh tế khác. (Ảnh: CIP)

Khai thác điện gió ngoài khơi cần gắn liền các ngành kinh tế khác. (Ảnh: CIP)

Thứ hai, cần nhìn điện gió ngoài khơi như một ngành công nghiệp chứ không chỉ là một nguồn điện. Do đó, chính sách điện lực/năng lượng, chính sách công nghiệp và chính sách phát triển khoa học công nghệ phải đi cùng với nhau thành một bộ khung chính sách. Cùng với phát triển các dự án, Việt Nam cần tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, từ cơ khí chế tạo, kết cấu thép, cáp điện, tàu dịch vụ, cảng biển, logistics đến vận hành, bảo dưỡng và các dịch vụ kỹ thuật. Đồng thời, cần gắn các dự án lớn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo trong nước. Đây cũng là hướng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 20 về phát triển các ngành, lĩnh vực biển mới và tăng cường năng lực công nghệ.

Thứ ba, phải chuẩn bị đồng bộ hạ tầng cho sự phát triển của ngành, nhất là cảng biển, logistics và hệ thống truyền tải điện. Nếu chỉ có dự án mà không có hạ tầng đi kèm thì rất khó tối ưu chi phí và tiến độ. Vì vậy, điện gió ngoài khơi cần được đặt trong mối quan hệ với quy hoạch không gian biển và quy hoạch phát triển kinh tế biển nói chung.

Tôi cho rằng đây chính là cơ hội để Việt Nam không chỉ khai thác tài nguyên gió ngoài khơi mà còn xây dựng năng lực công nghiệp và khoa học công nghệ của chính mình.

Nếu thực hiện được đồng bộ các yếu tố về thể chế, thị trường, hạ tầng, công nghệ và nhân lực, điện gió ngoài khơi sẽ không chỉ đóng góp thêm nguồn điện sạch cho nền kinh tế, mà còn có thể trở thành một trong những động lực hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển mới của Việt Nam, qua đó đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

LÊ CHI

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/viet-nam-co-nhieu-co-hoi-phat-trien-chuoi-gia-tri-trong-linh-vuc-dien-gio-ngoai-khoi-post992779.html