Việt Nam có thêm 2 Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh
Ngày 5.11, tại Kỳ họp lần thứ 11 của Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương (MOWCAP), diễn ra tại Jakarta (Indonesia), UNESCO đã thông qua việc ghi danh hai hồ sơ di sản tư liệu của Việt Nam gồm “Văn bia Phố Hiến” (Hưng Yên) và “Ma nhai trên núi Non Nước” (Ninh Bình) vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Sự kiện nâng tổng số di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO ghi danh lên 13, tiếp tục khẳng định giá trị của những nguồn tư liệu lịch sử, văn hóa đặc sắc của dân tộc trong dòng chảy di sản khu vực.

Kỳ họp lần thứ 11 của MOWCAP
Theo thông tin từ Bộ VHTTDL, quyết định được thông qua lúc 15 giờ 20’ ngày 5.11 (giờ Việt Nam), sau ba ngày làm việc của Kỳ họp lần thứ 11 MOWCAP. Kỳ họp có sự tham dự của hơn 150 đại biểu đến từ 24 quốc gia thành viên.
Đoàn Việt Nam gồm đại diện Bộ VHTTDL, Cục Di sản văn hóa, Ủy ban quốc gia Chương trình Ký ức thế giới của Việt Nam, Ủy ban UNESCO Việt Nam, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia cùng lãnh đạo và đại diện cộng đồng các địa phương có di sản được đề cử.
Tại kỳ họp, các đại biểu tập trung đánh giá hoạt động của MOWCAP giai đoạn 2024-2026; thảo luận, thông qua một số nội dung sửa đổi Quy chế hoạt động và Hướng dẫn bảo vệ di sản tư liệu của Chương trình; đồng thời tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề “Thế giới của nước: Các cộng đồng du mục biển, di sản tư liệu và Ký ức thế giới”.
Một trong những nội dung trọng tâm là xem xét 24 hồ sơ đề cử vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Kết quả, 21 hồ sơ được thông qua, trong đó có hai hồ sơ đề cử chung và các hồ sơ của Trung Quốc (3), Ấn Độ (3), Indonesia (3), Kazakhstan (2), Hàn Quốc (2), Mông Cổ (1), Philippines (3), Thái Lan (1), Đông Timor (1), Turkmenistan (1) và Việt Nam (2).

Quang cảnh Kỳ họp lần thứ 11 của MOWCAP
Việc cả hai hồ sơ của Việt Nam đều được thông qua cho thấy giá trị nổi bật của những tư liệu được lưu giữ qua nhiều thế kỷ, không chỉ đối với lịch sử, văn hóa dân tộc mà còn cung cấp những cứ liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử giao thương, giao lưu văn hóa và sự phát triển của các cộng đồng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Những trang sử khắc trên đá
Trong hai di sản vừa được ghi danh, “Văn bia Phố Hiến” là tập hợp 41 văn bia chữ Hán và chữ Nôm, có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại các di tích thuộc Quần thể di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.
Giá trị nổi bật của hệ thống văn bia trước hết nằm ở khả năng phản ánh tương đối toàn diện quá trình hình thành, phát triển và hưng thịnh của Phố Hiến – một thương cảng quốc tế tiêu biểu của Việt Nam và khu vực châu Á trong lịch sử.
Hình thành từ thế kỷ XVI, Phố Hiến phát triển mạnh mẽ và đạt thời kỳ cực thịnh vào thế kỷ XVII, trở thành một trong những trung tâm văn hóa, thương mại lớn của Việt Nam, đồng thời là điểm giao thương quan trọng của Đông Nam Á và Đông Á. Hoạt động buôn bán sôi động đã thu hút nhiều thương nhân nước ngoài đến sinh sống, giao thương, trong đó có người Hoa, người Nhật và từ nửa sau thế kỷ XVII có thêm sự hiện diện của người Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh.
Những dấu tích lịch sử ấy được phản ánh qua hệ thống văn bia, giúp nhận diện sự phát triển của đô thị, các hoạt động thương mại cũng như quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa cộng đồng cư dân bản địa với người nước ngoài. Đặc biệt, các văn bia còn cho thấy sự giao thoa tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội của một đô thị cảng quốc tế kéo dài từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.

Ma nhai trên núi Non Nước

Không chỉ có giá trị trong nghiên cứu lịch sử thương mại và hàng hải, hệ thống văn bia còn chứa đựng những thông tin đáng chú ý về đời sống văn hóa, giáo dục và xã hội. Chín tấm bia tại Văn Miếu Xích Đằng phản ánh truyền thống hiếu học, trọng đạo học của người Hưng Yên. Một số văn bia cũng ghi nhận sự chủ động tham gia, đóng góp của nữ giới trong đời sống tinh thần và tín ngưỡng tại Phố Hiến.
Theo đánh giá của MOWCAP, “Văn bia Phố Hiến” đáp ứng các tiêu chí về tính xác thực, toàn vẹn, độc bản và ý nghĩa tầm khu vực. Được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế kỷ, hệ thống tư liệu này là nguồn cứ liệu có giá trị đối với các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế khi tìm hiểu về ngoại giao, kinh tế, giao thương và giao lưu hàng hải trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Nếu “Văn bia Phố Hiến” ghi lại ký ức về một thương cảng quốc tế, thì “Ma nhai trên núi Non Nước” lại mở ra những lát cắt lịch sử, văn hóa được lưu giữ trực tiếp trên vách đá qua nhiều thế kỷ.
Di sản hiện có 43 bản văn khắc trên vách đá tại Di tích lịch sử và danh thắng quốc gia đặc biệt núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình. Các bản khắc sử dụng ba loại văn tự Hán, Nôm và Quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX. Nội dung phong phú, hình thức thể hiện độc đáo, bao gồm ngự bút, bia ký, thơ văn, đề từ... do các vị vua, quan lại, danh nhân, nhà văn hóa, nhà thơ lưu lại.

"Ma nhai trên núi Non Nước” mở ra những lát cắt lịch sử, văn hóa được lưu giữ trực tiếp trên vách đá qua nhiều thế kỷ

Hệ thống ma nhai còn phản ánh sự giao lưu, tiếp biến văn hóa ở khu vực Đông Á, thể hiện qua hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, sự tương tác giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam
Được khắc trực tiếp lên vách đá bằng kỹ thuật điêu khắc truyền thống, các bản ma nhai là những tư liệu độc bản, có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn học, văn hóa và nghệ thuật. Qua những dòng chữ được lưu lại trên đá, nhiều sự kiện, nhân vật và dấu ấn văn hóa của các thời kỳ lịch sử được tái hiện, góp phần làm sáng tỏ quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Đáng chú ý, hệ thống ma nhai còn phản ánh sự giao lưu, tiếp biến văn hóa ở khu vực Đông Á, thể hiện qua hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, sự tương tác giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam. Những tư liệu này đồng thời góp phần nhận diện lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại trong dòng chảy văn học chữ Hán của khu vực Đông Á.
Một khía cạnh có ý nghĩa xã hội được thể hiện qua nội dung một số bản khắc là sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động tôn giáo, xã hội qua các thời kỳ lịch sử. Những ghi chép này cung cấp thêm cứ liệu để nghiên cứu vị trí, vai trò của nữ giới trong đời sống cộng đồng, đồng thời cho thấy những biểu hiện của sự bình đẳng giới đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam từ thời trung đại, ít nhất từ thế kỷ XIV.
Phát huy giá trị di sản tư liệu trong đời sống đương đại
Điểm chung của hai di sản vừa được UNESCO ghi danh là đều lưu giữ những thông tin lịch sử có giá trị vượt ra ngoài phạm vi một địa phương. Nếu văn bia Phố Hiến giúp nhận diện diện mạo một thương cảng quốc tế, những mối quan hệ giao thương và giao lưu văn hóa trong khu vực, thì ma nhai núi Non Nước cung cấp nguồn tư liệu quý về lịch sử dân tộc, văn học, tôn giáo và sự tiếp biến văn hóa Đông Á.

Văn bia tại Văn Miếu Xích Đằng phản ánh truyền thống hiếu học, trọng đạo học của người Hưng Yên


Hồ sơ Phố Hiến
Việc được ghi danh không chỉ khẳng định giá trị của các tư liệu mà còn đặt ra yêu cầu tiếp tục bảo vệ, bảo quản và phát huy di sản một cách bền vững. Đây là những tư liệu được lưu giữ trong môi trường và điều kiện khác nhau, trong đó có những bản khắc trực tiếp trên vách đá, chịu tác động của thời gian và các yếu tố tự nhiên.
Vì vậy, công tác bảo tồn cần gắn với nghiên cứu khoa học, tư liệu hóa, số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu và tạo điều kiện để công chúng, giới nghiên cứu tiếp cận di sản.
Theo MOWCAP, hai hồ sơ của Việt Nam không chỉ đáp ứng các tiêu chí về tính xác thực, toàn vẹn, độc bản và ý nghĩa khu vực mà còn có kế hoạch bảo quản, quản lý và phát huy giá trị cụ thể, khả thi. Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm di sản tiếp tục được gìn giữ, nghiên cứu và trao truyền cho các thế hệ sau.
Với việc bổ sung hai di sản tư liệu lần này, Việt Nam hiện có 13 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, gồm 4 di sản tư liệu thuộc Danh mục Di sản tư liệu thế giới và 9 di sản thuộc Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Hồ sơ Phố Hiến
Kết quả này góp phần hiện thực hóa mục tiêu tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó đặt ra yêu cầu phấn đấu có thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh vào năm 2030 và 10 di sản vào năm 2045.
Từ những văn bia ghi dấu một thương cảng sầm uất đến những dòng chữ khắc trên vách núi qua nhiều thế kỷ, hai di sản vừa được ghi danh cho thấy chiều sâu và sự phong phú của ký ức lịch sử Việt Nam.
Quan trọng hơn, việc ghi danh cần được tiếp nối bằng những hành động thiết thực trong bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị, để di sản tư liệu không chỉ là chứng tích của quá khứ mà còn trở thành nguồn lực tri thức, văn hóa trong đời sống hôm nay.
Nguồn Văn hóa: https://baovanhoa.vn/viet-nam-co-them-2-di-san-tu-lieu-duoc-unesco-ghi-danh.html



