Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về dữ liệu và AI
Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và phát triển trí tuệ nhân tạo; đồng thời trở thành một trung tâm quan trọng của khu vực về lưu trữ, xử lý và trung chuyển dữ liệu xuyên biên giới.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026, phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chiến lược đặt mục tiêu hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, an toàn, tin cậy, liên thông và dùng chung; phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho dữ liệu, nền tảng dữ liệu và hạ tầng tính toán theo một kiến trúc thống nhất.

Việt Nam sẽ đưa vào vận hành Hệ thống giám sát an ninh dữ liệu quốc gia hoạt động liên tục 24/7. Ảnh minh họa: AI tạo
Dữ liệu được xác định là tài nguyên chiến lược, tư liệu sản xuất quan trọng và động lực mới cho quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số. Trên nền tảng đó, Việt Nam sẽ đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, điện toán hiệu năng cao và các công nghệ số chiến lược trong phân tích, dự báo, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ thông minh.
Chuẩn hóa dữ liệu trên phạm vi toàn quốc, xác định nguyên tắc "dữ liệu thay giấy tờ"
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2030 là hoàn thiện toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi, đồng thời ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu.
Việc tạo lập, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phải được thực hiện hài hòa với yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo Chiến lược, 100% bộ, ngành và địa phương phải ban hành chiến lược dữ liệu, khung kiến trúc, khung quản trị và quản lý dữ liệu của từng cấp. Từ điển dữ liệu của các cơ quan cũng phải được công bố, kết nối và tuân thủ Từ điển dữ liệu quốc gia dùng chung.
Các bộ, ngành, địa phương sẽ được đánh giá, xếp hạng hằng năm về mức độ phát triển và chất lượng dữ liệu. Cơ quan, tổ chức xử lý từ một triệu bản ghi dữ liệu trở lên phải thực hiện kiểm toán dữ liệu định kỳ hai năm một lần.
Đối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trọng yếu và dữ liệu dùng chung, Chiến lược yêu cầu hoàn thành việc số hóa, chuẩn hóa, làm sạch theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”.
Toàn bộ dữ liệu thuộc phạm vi này sẽ được đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia và khai thác thống nhất thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm dữ liệu quốc gia, trừ những trường hợp đặc thù được cấp có thẩm quyền cho phép kết nối trực tiếp.
Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia cũng sẽ được đưa vào vận hành. Những thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện phải khai thác, sử dụng lại thông tin từ cơ sở dữ liệu này, qua đó thực hiện triệt để nguyên tắc “dữ liệu thay giấy tờ”, giảm thành phần hồ sơ và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Việc khai thác dữ liệu không chỉ phục vụ giải quyết thủ tục hành chính mà còn hướng tới hình thành năng lực phân tích, dự báo chiến lược quốc gia, cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình hoạch định chính sách.
Xây dựng 3 Trung tâm dữ liệu quốc gia, hình thành ít nhất 5 sàn dữ liệu
Về hạ tầng, Việt Nam đặt mục tiêu hoàn thành và đưa vào vận hành chính thức 3 Trung tâm dữ liệu quốc gia theo lộ trình đã được Chính phủ xác định.
Hạ tầng tính toán hiệu năng cao và hạ tầng trí tuệ nhân tạo sẽ được thiết lập tại Trung tâm dữ liệu quốc gia. Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và tổ chức đủ điều kiện được tiếp cận tài nguyên tính toán dùng chung để xử lý dữ liệu lớn, huấn luyện và triển khai các mô hình AI.
Hạ tầng dữ liệu quốc gia phải được kết nối đồng bộ với các hệ thống truyền dẫn, năng lượng, hạ tầng số và an ninh mạng. Dữ liệu cốt lõi cùng các nền tảng số trọng yếu phải có cơ chế dự phòng nhiều lớp, bảo đảm khả năng duy trì hoạt động liên tục và khôi phục dịch vụ dữ liệu thiết yếu trong thời gian không quá bốn giờ sau khi xảy ra sự cố hoặc thảm họa.
Chiến lược yêu cầu toàn bộ tập dữ liệu mở trên Cổng dữ liệu mở quốc gia phải được chuẩn hóa, bảo đảm chất lượng, dễ tiếp cận, dễ khai thác và có khả năng sử dụng lại.
Đây sẽ là nguồn nguyên liệu phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, phát triển, huấn luyện và kiểm thử các mô hình trí tuệ nhân tạo, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành những mô hình kinh doanh mới.
Các bộ dữ liệu trong những lĩnh vực thiết yếu như tiếng Việt, internet vạn vật và dữ liệu thời gian thực sẽ được chuẩn hóa, làm sạch, gắn nhãn, ẩn danh và tích hợp lên Kho dữ liệu AI quốc gia.
Thông qua kho dữ liệu này, Việt Nam đặt mục tiêu hỗ trợ phát triển, huấn luyện thành công ít nhất 150 sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và mô hình AI “Make in Vietnam”.
Trong lĩnh vực kinh tế dữ liệu, 100% cơ quan nhà nước cấp bộ và cấp tỉnh phải cung cấp dữ liệu mở bảo đảm chất lượng, công bố thường xuyên trên Cổng dữ liệu mở quốc gia.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu số hóa 90% di sản văn hóa, di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt; hoàn thành số hóa, lưu trữ và chia sẻ thông tin đối với toàn bộ danh lam thắng cảnh, địa điểm du lịch trong nước.
Dữ liệu bảo hiểm xã hội, lao động, giáo dục và y tế tiếp tục được hoàn thiện. Trong đó, tỷ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử phấn đấu đạt 100%; kho học liệu số phải đáp ứng toàn bộ chương trình giáo dục phổ thông và tối thiểu 40% số ngành đào tạo trình độ đại học.
Đáng chú ý, Việt Nam sẽ đưa vào vận hành ít nhất 5 sàn dữ liệu, qua đó từng bước hình thành thị trường dữ liệu minh bạch, an toàn và có kiểm soát.
Cả nước phấn đấu có ít nhất 1.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ dữ liệu, phân tích dữ liệu, nền tảng, sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời hình thành tối thiểu 30 tổ chức trung gian dữ liệu.
Về nguồn nhân lực, Chiến lược đặt mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 50.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức có năng lực quản trị, phân tích và khai thác dữ liệu.
Khoảng 300.000 lượt người lao động trong doanh nghiệp sẽ được đào tạo kỹ năng dữ liệu, phân tích dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Việt Nam cũng hướng tới xây dựng đội ngũ ít nhất 5.000 chuyên gia dữ liệu nòng cốt trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và tổ chức khoa học, công nghệ; có trên 50 cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành liên quan đến khoa học dữ liệu, quản trị dữ liệu, AI, điện toán hiệu năng cao và an ninh dữ liệu.
Hướng tới quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu
Cùng với khai thác và phát triển dữ liệu, yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng.
Việt Nam sẽ đưa vào vận hành Hệ thống giám sát an ninh dữ liệu quốc gia hoạt động liên tục 24/7. Trên 90% hệ thống thông tin chứa dữ liệu cốt lõi phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bảo vệ.
Toàn bộ hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương phải được phê duyệt cấp độ, kết nối giám sát, cảnh báo và triển khai phương án ứng cứu sự cố.
Cơ chế kiểm soát toàn bộ vòng đời dữ liệu sẽ được áp dụng đối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống dữ liệu trọng yếu. Lịch sử xử lý, khai thác dữ liệu phải có khả năng truy xuất; đồng thời cung cấp công cụ trực tuyến để người dân và tổ chức trực tiếp giám sát việc sử dụng dữ liệu của mình.
Tầm nhìn đến năm 2045, toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước được hỗ trợ bởi dữ liệu. Ít nhất 90% quyết định, chính sách quan trọng được xây dựng, đánh giá và dự báo trên cơ sở phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Toàn bộ dịch vụ công đủ điều kiện sẽ được cung cấp toàn trình trên môi trường điện tử; tối thiểu 90% dịch vụ công thiết yếu được cung cấp theo hướng chủ động, tự động hoặc cá nhân hóa dựa trên dữ liệu. Mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp được đặt mục tiêu đạt từ 99% trở lên.
Việt Nam cũng phấn đấu làm chủ ít nhất 80% nền tảng, công nghệ và sản phẩm cốt lõi phục vụ quản trị, lưu trữ, xử lý, phân tích và bảo vệ dữ liệu.
Đến năm 2045, Việt Nam hướng tới thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về năng lực quản trị, khai thác dữ liệu và phát triển trí tuệ nhân tạo; trở thành một trung tâm quan trọng của khu vực về lưu trữ, xử lý, kết nối, chia sẻ và trung chuyển dữ liệu xuyên biên giới.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Chiến lược xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm:
1- Xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách.
2- Phát triển hạ tầng và nền tảng dữ liệu quốc gia.
3- Phát triển dữ liệu.
4- Nhiệm vụ cụ thể về phát triển kinh tế dữ liệu và thị trường dữ liệu.
5- Nhiệm vụ cụ thể về phát triển nguồn nhân lực dữ liệu.
6- Nhiệm vụ cụ thể về bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và chủ quyền dữ liệu.
7- Ứng dụng Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia.
8- Tăng cường hợp tác quốc tế về dữ liệu.











