Việt Nam tăng cường theo dõi chỉ tiêu 10.7.1 về di cư lao động hợp pháp thuộc mục tiêu phát triển bền vững
Việt Nam tiếp tục có những bước tiến trong việc xây dựng và sử dụng hệ thống dữ liệu thống kê đầy đủ, tin cậy và kịp thời phục vụ theo dõi di cư lao động khi chính thức công bố Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài - Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”.

Hội thảo thu hút đông đảo đại biểu trong nước và quốc tế tham dự. (Ảnh: HNV)
Báo cáo do Cục Thống kê xây dựng trên cơ sở số liệu từ điều tra lao động và việc làm năm 2025 và khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025 với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức di cư quốc tế (IOM) trong quá trình khảo sát và phân tích, cùng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) và Chính phủ Thụy Điển.
Sáng 8/9, tại Hà Nội, các kết quả của báo cáo đã được trình bày tại hội thảo quốc gia do Cục Thống kê phối hợp Tổ chức di cư quốc tế (IOM) tổ chức. Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo các bộ, ban, ngành, các cơ quan Liên hợp quốc, đối tác phát triển, giới học thuật và các cơ quan, tổ chức liên quan nhằm thảo luận về vai trò của số liệu thống kê chính thức về di cư lao động trong xây dựng chính sách, tăng cường quản trị, bảo vệ người lao động di cư và theo dõi tiến độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) tại Việt Nam.
Báo cáo cho thấy nhiều tín hiệu tích cực: chi phí bình quân người lao động di cư chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8%, từ 164,9 triệu đồng năm 2021 xuống còn 125,7 triệu đồng năm 2025. Ngoài ra, thu nhập bình quân trong tháng làm việc đầu tiên ở nước ngoài tăng 25,4%, từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng. Theo đó, chỉ tiêu SDG 10.7.1 phản ánh tỷ lệ giữa tổng chi phí do người lao động chi trả để làm việc ở nước ngoài và thu nhập trong tháng làm việc đầu tiên ở nơi đến. Điều này có nghĩa là, năm 2025, chi phí bình quân để có được việc làm ở nước ngoài tương đương khoảng 4,5 tháng thu nhập, giảm so với mức 7,4 tháng vào năm 2021.
Ngoài cung cấp những kết quả chung, báo cáo còn cung cấp các phân tích theo giới tính, khu vực cư trú, trình độ kỹ năng, thị trường tiếp nhận và phương thức tìm việc, qua đó cho thấy sự đa dạng về đặc điểm và trải nghiệm của các nhóm lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.

Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. (Ảnh: HNV)
Bên cạnh đó, khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025 còn cung cấp thêm thông tin về một số khía cạnh của trải nghiệm di cư lao động như: điều kiện làm việc, khả năng tiếp cận các cơ chế hỗ trợ, tình trạng việc làm sau khi trở về, việc sử dụng kỹ năng và dự định di cư trong tương lai. Các thông tin này góp phần làm rõ hơn những yếu tố tác động đến trải nghiệm di cư của người lao động và cung cấp bằng chứng phục vụ phân tích chính sách.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê: Số liệu thống kê là cơ sở phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, quá trình di cư và những yếu tố tác động đến quyết định di cư, qua đó cung cấp bằng chứng phục vụ nghiên cứu, phân tích cũng như theo dõi các mục tiêu phát triển.

Trưởng phái đoàn IOM tại Việt Nam, bà Kendra Rinas. (Ảnh: HNV)
Đồng quan điểm này, bà Kendra Rinas, Trưởng phái đoàn IOM tại Việt Nam khẳng định về sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống dữ liệu về di cư lao động quốc tế, tăng cường tính liên tục và khả năng so sánh của số liệu, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu trong xây dựng và triển khai chính sách.
Tại hội thảo, ông Gonzalo Serrano de la Rosa, Phó Trưởng Ban hợp tác, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam chia sẻ: di cư không chỉ là một vấn đề lao động mà còn là một vấn đề phát triển, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành và các quốc gia.

Ông Gonzalo Serrano de la Rosa, Phó Trưởng Ban hợp tác, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam. (Ảnh: HNV)
“Thông qua cách tiếp cận 'Nhóm châu Âu' (Team Europe), quy tụ Liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên EU, chúng tôi cam kết đồng hành cùng Việt Nam và các đối tác trong việc củng cố cơ sở bằng chứng và năng lực thể chế phục vụ quản trị di cư hiệu quả", ông Gonzalo Serrano de la Rosa bày tỏ.
Cũng theo ông Gonzalo Serrano de la Rosa, đầu tư vào con người, tri thức và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng chính là nền tảng để di cư lao động đóng góp tích cực cho phát triển bền vững, đồng thời mang lại những lợi ích lâu dài cho người lao động, xã hội và nền kinh tế .
Dịp này, bà Emelie Rennerfelt, Phó Đại sứ, Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam cũng nhấn mạnh: Dữ liệu đáng tin cậy là nền tảng thiết yếu để hiểu được những gì đang tiến triển và những gì cần tiếp tục hành động. Mỗi số liệu thống kê phản ánh câu chuyện một người lao động đưa ra quyết định quan trọng về tương lai của mình.
Theo Phó Đại sứ Emelie Rennerfelt, trong bối cảnh Việt Nam nỗ lực giảm chi phí di cư lao động và tăng cường các biện pháp bảo vệ người lao động, Thụy Điển cũng nhận thấy các điều kiện làm việc thỏa đáng và các thực hành tuyển dụng có đạo đức trong toàn bộ chuỗi cung ứng sẽ góp phần củng cố những thành tựu này.

Phó Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, bà Emelie Rennerfelt. (Ảnh: HNV)
“Khi ngày càng nhiều người lao động trong khu vực di cư không chỉ để tìm kiếm cơ hội kinh tế mà còn do áp lực từ biến đổi khí hậu, tuyển dụng có trách nhiệm và bảo đảm các tiêu chuẩn lao động công bằng đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thụy Điển tự hào hỗ trợ Việt Nam và IOM trong việc thúc đẩy quản trị di cư lao động dựa trên bằng chứng, đồng thời thúc đẩy các chuỗi cung ứng tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, bảo đảm các tiêu chuẩn lao động công bằng và đóng góp cho phát triển bền vững”, Phó Đại sứ Emelie Rennerfelt cam kết.
Từ các phân tích của các diễn giả đến từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) và Chương trình di cư lao động và trách nhiệm doanh nghiệp IOM Việt Nam, hội thảo đã cùng nhau lắng nghe giới thiệu về điều tra lao động việc làm và khảo sát chuyên sâu về lao động di cư năm 2025; kết quả chính sách từ báo cáo phân tích chuyên sâu về chi phí do lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài (SDG 10.7.1); chính sách hỗ trợ người Việt Nam di cư lao động quốc tế; thực tiễn và định hướng tăng cường công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài cũng như phát huy vai trò của dữ liệu vì người lao động di cư...

Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài – Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”. (Ảnh: HNV)
Hội thảo cũng nhất trí rằng, tới đây, cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống dữ liệu về di cư lao động quốc tế, tăng cường tính liên tục và khả năng so sánh của số liệu, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu trong xây dựng và triển khai chính sách. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy di cư an toàn, hợp pháp, có trật tự và bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người lao động di cư.


