Việt Nam tham gia bảo vệ đại dương: Hơn hai thập kỷ nhìn lại

Hiệp ước bảo tồn đa dạng sinh học đại dương (gọi tắt là BBNJ) của Liên Hợp Quốc chính thức có hiệu lực vào ngày 17-1 không chỉ là thỏa thuận và cam kết đơn thuần, mà còn là một 'phép thử' khác cho năng lực nội luật hóa của các quốc gia có biển, bao gồm Việt Nam.

Cảng cá Thọ Quang. TP. Đà Nẵng. Việc tham gia các thỏa thuận, hiệp ước quốc tế trong hai thập kỷ qua giúp Việt Nam vừa phát triển nghề đánh bắt cá bền vững vừa tham gia bảo vệ đại dương. Ảnh: Hoàng Lê

Cảng cá Thọ Quang. TP. Đà Nẵng. Việc tham gia các thỏa thuận, hiệp ước quốc tế trong hai thập kỷ qua giúp Việt Nam vừa phát triển nghề đánh bắt cá bền vững vừa tham gia bảo vệ đại dương. Ảnh: Hoàng Lê

BBNJ được xem là một khung pháp lý ràng buộc được cộng đồng quốc tế kỳ vọng sẽ giải quyết triệt để các thách thức về đánh bắt quá mức và biến đổi khí hậu. Theo đó, hiệp ước này cho phép thiết lập một mạng lưới các khu bảo tồn biển tại các vùng biển quốc tế vốn trước đây gần như không được quản lý - khu vực chiếm tới hai phần ba diện tích đại dương và một nửa bề mặt hành tinh. Mục tiêu cốt lõi của hiệp ước là bảo vệ ít nhất 30% môi trường đại dương vào năm 2030 (còn gọi mục tiêu 30x30), đồng thời tạo ra cơ chế chia sẻ công bằng lợi ích từ nguồn gen biển và chống đánh bắt quá mức (1).

Xây dựng nền tảng pháp lý nội địa

Vào những năm 2000, khi khái niệm “bảo tồn biển” còn khá xa lạ với đại đa số ngư dân và doanh nghiệp, Việt Nam đã bắt đầu đặt những viên gạch pháp lý đầu tiên mang tính định hình để tham gia bảo tồn biển cả và đại dương quốc tế một cách bền vững.

Một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong giai đoạn này là Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, ký ngày 25-12-2000 (2). Đây là một bước đi mang tính lịch sử, không chỉ vì nó cụ thể hóa Công ước Luật Biển 1982 (UNCLOS) trong một vùng biển, mà còn vì nó xác lập một nguyên tắc quản trị mới: bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển.

Hiệp định này đã buộc các bên phải tuân thủ đánh bắt có kiểm soát, dựa trên việc tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước láng giềng. Đây chính là tiền đề cho tư duy quản trị biển hiện đại: không thể có bảo tồn nếu không có một ranh giới pháp lý minh bạch.

Sự chuyển dịch tư duy này sau đó được cụ thể hóa bằng Luật Thủy sản năm 2003 (có hiệu lực từ tháng 7-2004) (3). Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp về thủy sản, Việt Nam đã đưa các quy định về bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản và phục hồi nguồn lợi thành một chương riêng biệt.

Luật Thủy sản 2003 đã bãi bỏ Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989, thay thế bằng một cơ chế quản lý nhà nước chặt chẽ hơn về khu bảo tồn biển và các vùng nước nội thủy, lãnh hải. Tuy nhiên, công bằng mà nói, giai đoạn 2000-2010 vẫn mang đậm tính chất “vừa làm vừa học”. Các nỗ lực bảo vệ đại dương lúc đó chủ yếu tập trung vào việc ngăn chặn các phương thức đánh bắt hủy diệt và quản lý cường lực khai thác trong phạm vi gần bờ, chưa thực sự chạm tới các vấn đề mang tính hệ sinh thái và xuyên biên giới.

Kỷ nguyên tham gia toàn cầu

Quá trình Việt Nam tham gia các thỏa thuận, hiệp ước về biển và đại dương trong hơn 20 năm qua

1 của 6

Bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ 21, hành trình tham gia bảo vệ đại dương ở tầm vĩ mô và đánh bắt bền vững ở tầm quốc gia của Việt Nam đã có sự thay đổi lớn về chất. Việt Nam không còn đứng lại ở các thỏa thuận song phương hay các quy định nội bộ, mà bắt đầu tham gia sâu vào các cơ chế đa phương với các tiêu chuẩn khắt khe hơn.

Năm 2018, việc gia nhập Hiệp định về Biện pháp quốc gia có cảng (PSMA) của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) theo Nghị quyết số 89/NQ-CP đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc chiến chống đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) (4). Bằng việc tham gia PSMA, Việt Nam không chỉ cam kết kiểm soát đội tàu của mình mà còn sẵn sàng thực thi quyền kiểm soát đối với các tàu cá nước ngoài cập cảng Việt Nam.

Đây là một quyết định mang tính chiến lược, bởi nó gắn liền uy tín quốc gia với sự minh bạch của chuỗi cung ứng hải sản toàn cầu. Nó buộc toàn bộ hệ thống từ cảng biển, lực lượng kiểm ngư đến các doanh nghiệp xuất khẩu phải thay đổi quy trình vận hành theo các tiêu chuẩn quốc tế khẩn trương và nghiêm túc hơn.

Sự chuyển dịch từ “nghề cá nhân dân” sang “nghề cá có trách nhiệm” tiếp tục được đẩy mạnh thông qua các chiến lược quốc gia về kinh tế biển bền vững. Đáng chú ý là Quyết định số 1746/QĐ-TTg năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ, ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Tài liệu này đã vạch ra một lộ trình chi tiết nhằm giảm thiểu rác thải nhựa đại dương - một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với đa dạng sinh học mà Hiệp ước BBNJ đang hướng tới xử lý. Mục tiêu của Việt Nam rất cụ thể: xóa bỏ hoàn toàn rác thải nhựa tồn đọng tại các khu bảo tồn biển trọng điểm như Côn Đảo, Cù Lao Chàm và Phú Quốc. Bên cạnh đó, các mô hình thí điểm giảm thiểu nhựa đang được triển khai tại các địa phương có biển dựa trên chương trình Đô thị giảm nhựa của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), tạo ra một mạng lưới bảo vệ từ đất liền ra đến biển sâu.

Nhìn lại hơn hai thập kỷ, từ Hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 đến BBNJ năm 2026, Việt Nam đang bước vào một chu trình chuyển đổi quan trọng. Từ một quốc gia ven biển tập trung vào khai thác tài nguyên để phát triển kinh tế, Việt Nam đang trở thành một thành viên tích cực của quản trị đại dương toàn cầu.

Thách thức lớn nhất trong những năm tới không còn là việc ký kết các hiệp ước, mà là năng lực thực thi để đạt được mục tiêu bảo vệ 30% đại dương vào năm 2030.

Nguồn tham khảo:

https://www.reuters.com/sustainability/climate-energy/un-biodiversity-treaty-enters-into-force-aims-protect-30-oceans-by-2030-2026-01-17/
Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc (2000)
Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 của Quốc hội Việt Nam
Nghị quyết 89/NQ-CP (2018) về việc gia nhập Hiệp định về Biện pháp quốc gia có cảng (PSMA)

Nhân Tâm

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/viet-nam-tham-gia-bao-ve-dai-duong-hon-hai-thap-ky-nhin-lai/