Việt Nam xuất khẩu gần 500 tỷ USD hàng hóa trong 10 tháng
Xuất khẩu hàng hóa tiếp tục tăng trong 10 tháng năm 2026, song nhập khẩu tăng nhanh hơn khiến cán cân thương mại nhập siêu, trong khi doanh nghiệp sản xuất vẫn gặp khó khăn về nguồn cung và chi phí vận tải...

Theo báo cáo của Cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2026 sơ bộ đạt 122,03 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 47,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 64,67 tỷ USD, tăng 8,7% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 57,36 tỷ USD, giảm 1,4%.
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 10 xuất siêu 7,31 tỷ USD, sau mức xuất siêu 1,30 tỷ USD của tháng 9. Đây là tháng thứ 2 liên tiếp Việt Nam ghi nhận xuất siêu trong năm 2026.
Tính chung 10 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, đưa cán cân thương mại hàng hóa lũy kế nhập siêu 12,07 tỷ USD.
Trong tháng 10, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 51,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt 9,94 tỷ USD, tăng 13,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 54,73 tỷ USD, tăng 61,2%.
Lũy kế 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5%. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tăng 8,2%, chiếm 18,8% tổng kim ngạch. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33%, chiếm 81,2%.
Có 37 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,9% tổng kim ngạch; trong đó, 8 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 73,4%: Điện tử, máy tính và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; giày dép; phương tiện vận tải và phụ tùng; gỗ và sản phẩm gỗ; thủy sản.
Về cơ cấu, hàng công nghiệp chế biến đạt 452,74 tỷ USD, chiếm 90,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhóm nông sản, lâm sản đạt 33,48 tỷ USD, chiếm 6,7%; thủy sản đạt 10,36 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,66 tỷ USD, chiếm 0,5%.
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng, với kim ngạch đạt 159,40 tỷ USD. Xuất siêu sang thị trường này đạt 140,10 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam cũng xuất siêu sang EU 40,84 tỷ USD, tăng 26,8%; sang Nhật Bản 3,42 tỷ USD, tăng 110,4%.

Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu mười tháng năm 2026
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 10 tháng đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 131,76 tỷ USD, tăng 23%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 379,55 tỷ USD, tăng 43,2%.
Có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ USD, chiếm 95% tổng kim ngạch; trong đó, 8 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 67,3%. Điện tử, máy tính và linh kiện dẫn đầu đạt kim ngạch nhập khẩu 215,250 tỷ USD, tăng 74,4%.
Theo cơ cấu nhóm hàng, tư liệu sản xuất đạt 481,03 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,5%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,6%. Nhóm vật phẩm tiêu dùng đạt 30,28 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch 212,46 tỷ USD. Nhập siêu từ Trung Quốc đạt 134,94 tỷ USD, tăng 43,2%; từ Hàn Quốc đạt 48,63 tỷ USD, tăng 91,1%; từ ASEAN đạt 16,93 tỷ USD, tăng 46%.
Tính chung 10 tháng, Việt Nam nhập siêu 12,07 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,49 tỷ USD. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 37,83 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, xuất siêu 25,76 tỷ USD.
Về hoạt động sản xuất, báo cáo của S&P Global cho biết Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tăng từ 51,9 điểm trong tháng 9 lên 52,3 điểm trong tháng 10. Các điều kiện kinh doanh đã cải thiện trong 16 tháng liên tiếp.
Tổng số lượng đơn đặt hàng mới tăng tháng thứ 6 liên tiếp nhờ nhu cầu khách hàng tăng, dù số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tiếp tục giảm. Tốc độ tăng tổng đơn hàng vẫn mạnh nhưng thấp nhất trong chuỗi tăng hiện nay.
Sản lượng sản xuất cũng tiếp tục tăng, song tốc độ chậm lại và xuống mức thấp nhất trong 6 tháng. Một số doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết khó khăn trong việc mua nguyên vật liệu đã ảnh hưởng đến tăng trưởng sản lượng.
Thời gian giao hàng của nhà cung cấp kéo dài nhiều nhất kể từ tháng 4. Theo các doanh nghiệp được khảo sát, giá nhiên liệu tăng và thời tiết xấu là 2 trong những nguyên nhân gây chậm trễ vận tải. Khó khăn trong nhập khẩu và việc đưa ngay nguyên liệu đầu vào vào sản xuất khiến tồn kho hàng mua giảm mạnh, dù hoạt động mua hàng vẫn tăng.
Chi phí dầu, nhiên liệu và vận tải tăng góp phần đẩy giá đầu vào tăng nhanh nhất kể từ tháng 6. Giá bán đầu ra cũng tăng nhanh hơn sau khi chỉ tăng nhẹ trong tháng 9. Việc làm giảm tháng thứ 3 liên tiếp, với mức giảm nhẹ. Trong khi đó, lượng công việc tồn đọng giảm nhẹ và tồn kho thành phẩm tiếp tục giảm khi các công ty chủ động bán hàng để giảm tồn kho.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence đánh giá: "Các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn trong duy trì tăng trưởng khi chi phí nhiên liệu, vận tải tăng và trở ngại xuất hiện ở cả khâu nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Dù các doanh nghiệp vẫn duy trì được sự cải thiện, họ cần môi trường thuận lợi hơn để tăng trưởng trong những tháng tới".

