Viết tiếp bản hùng ca 'Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh'
80 năm đã đi qua kể từ mùa Đông lịch sử năm 1946, nhưng tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không chỉ được nhắc lại như một ký ức hào hùng.
Tối 6/10, tại Hội trường Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức chương trình giao lưu nhân chứng lịch sử “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh - Bản hùng ca 80 năm”.
Chương trình được tổ chức nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội (19/10/1946 - 19/10/2026), đồng thời diễn ra trong những ngày Hà Nội hướng tới kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026).
Chương trình là dịp gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, tướng lĩnh, cựu chiến binh và những người lính trẻ hôm nay, qua đó tái hiện mạch nguồn truyền thống được các thế hệ Lực lượng vũ trang Thủ đô gìn giữ, tiếp nối trong suốt 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành.

Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP. Hà Nội Bùi Huyền Mai cùng các đại biểu tham dự Tọa đàm.
Những ký ức làm nên “mạch nguồn Quyết tử”
Phát biểu khai mạc, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Nhân, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội nhấn mạnh ý nghĩa của việc ôn lại truyền thống, tri ân những thế hệ đã chiến đấu, hy sinh, qua đó tiếp nối tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Thủ đô hôm nay.
Những thước phim tư liệu “Những Vệ Út năm xưa” đưa người xem trở về mùa đông năm 1946. Giữa 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô, có những chiến sĩ liên lạc của Trung đoàn Thủ đô mới 13, 14 tuổi. Tuổi còn nhỏ nhưng họ đã hoạt động giữa bom đạn, góp sức cùng quân và dân Hà Nội giữ từng ngôi nhà, góc phố.

Các đại biểu, khách mời tham dự Tọa đàm.
Từ chiến lũy mùa đông năm 1946, câu chuyện được nối đến Hà Nội tháng 12/1972 qua ký ức của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không - Không quân), người trực tiếp trải qua 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”. Ông cùng Đại tá Nguyễn Xuân Hà và đảng viên trẻ Nguyễn Viết Thịnh, Tiểu đội trưởng Dân quân thường trực phường Ô Chợ Dừa là ba khách mời của phần giao lưu “Mạch nguồn Quyết tử”.

Thiếu tướng Nguyễn Khắc Nhân, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội phát biểu khai mạc.
Nhớ lại trận đánh B-52 rạng sáng 19/12/1972, Đại tá Đinh Thế Văn kể, để chuẩn bị đối đầu với loại máy bay được coi là “pháo đài bay”, từ trước đó, Tiểu đoàn 77 đã nhiều lần nghiên cứu tính năng, kỹ thuật, chiến thuật của B-52, phân tích thủ đoạn, đường bay và luyện tập phương án tác chiến. 45“Học ngày không đủ, Tiểu đoàn tranh thủ học đêm. Suốt 12 ngày đêm, chúng tôi không có một giấc ngủ ngon”, Đại tá Đinh Thế Văn nhớ lại.
Đêm 18, rạng sáng 19/12/1972, khi phát hiện B-52, kíp chiến đấu theo dõi mục tiêu, vận dụng phương pháp “đánh 3 điểm” kết hợp “vượt nửa góc”, tập trung phân biệt dải nhiễu để bám đúng mục tiêu. Đến 4h39, hai quả tên lửa được phóng ở cự ly 26km và 25km, đánh trúng B-52. “Trận đánh này, chúng tôi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, chờ địch vào để đánh chứ không bị bất ngờ”, Đại tá Đinh Thế Văn chia sẻ.
Đằng sau chiến thắng, qua lời kể của người trực tiếp chỉ huy trận đánh, không chỉ có lòng dũng cảm mà còn là sự chuẩn bị, nghiên cứu đối phương, luyện tập và khả năng tìm cách khắc chế nhiễu điện tử. Bởi vậy, câu chuyện về B-52 tại tọa đàm không dừng ở việc nhắc lại một chiến công, mà còn gợi mở một giá trị xuyên suốt: Bản lĩnh chiến đấu luôn phải đi cùng trí tuệ và khả năng làm chủ phương tiện, kỹ thuật.

Đại tá Đinh Thế Văn kể lại trận đánh hạ B-52 trên bầu trời Hà Nội.
Khi truyền thống được trao lại cho người trẻ
Nếu những nhân chứng lịch sử đem đến cho tọa đàm ký ức của người đã đi qua chiến tranh thì những người trẻ cho thấy truyền thống ấy được tiếp nhận như thế nào trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác.
Câu chuyện của Nguyễn Viết Thịnh là một lát cắt như vậy. Sau khi tốt nghiệp đại học, thay vì lựa chọn ngay công việc văn phòng đúng chuyên ngành, anh tự nguyện tham gia lực lượng Dân quân thường trực và hiện là Tiểu đội trưởng Dân quân thường trực tại phường Ô Chợ Dừa. Với lực lượng dân quân hôm nay, nhiệm vụ không chỉ là sẵn sàng xử lý các tình huống liên quan đến an ninh, trật tự mà còn tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn khi cần thiết.
Từ câu chuyện của một người trẻ ở cơ sở, chương trình tiếp tục kết nối trực tuyến tới Trung đoàn 692 - “Đoàn Thanh Xuyên” anh hùng, đơn vị cơ động sẵn sàng chiến đấu của Lực lượng vũ trang Thủ đô. Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã xây đắp truyền thống “Trung kiên, dũng cảm, luyện giỏi, đánh thắng”.
Tại điểm cầu, chiến sĩ trẻ Đào Đức Đạt chia sẻ niềm tự hào và lòng biết ơn các thế hệ cha anh đã không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh xương máu để có được hòa bình. Với anh, niềm tự hào còn đến từ việc chính mình đang đứng trong hàng ngũ Lực lượng vũ trang Thủ đô, tiếp tục truyền thống “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.
“Thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay cần không ngừng học tập, rèn luyện ý chí, giữ vững bản lĩnh chính trị, gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu đó,” chiến sĩ Đào Đức Đạt nói.
Điều đáng chú ý là cách người chiến sĩ trẻ cụ thể hóa hai chữ “tiếp nối”. Đó không phải là những điều xa xôi, mà bắt đầu từ từng giờ huấn luyện, từng yêu cầu về kỷ luật, kỹ thuật, chiến thuật; từ việc làm chủ vũ khí, khí tài, trang bị và duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu. Trong điều kiện thời bình, trách nhiệm với truyền thống trước hết được đo bằng chất lượng hoàn thành nhiệm vụ hằng ngày.

Trung tướng Đào Văn Nhận, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội phát biểu tại buổi giao lưu.
Ở một góc nhìn khác, đoàn viên phường Tùng Thiện Nguyễn Thảo Vy kể về những người lính Trung đoàn 692 mà thanh niên và người dân địa phương thường xuyên gặp trong cuộc sống: Trên thao trường, trong những ngày mưa bão, khi vệ sinh nghĩa trang liệt sĩ, bảo vệ môi trường hay hỗ trợ các gia đình chính sách, gia đình khó khăn. Sự gắn bó quân - dân vì thế không phải là một khái niệm trừu tượng mà được tạo dựng từ những công việc cụ thể.
Một điểm nhấn khác của chương trình là sự hiện diện của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Mạnh. Chồng Mẹ là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Thoi, hy sinh năm 1969 trong kháng chiến chống Mỹ; người con trai út là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Hải, hy sinh năm 1988 khi làm nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc. Khi những đoàn viên, học sinh, chiến sĩ trẻ quây quần bên Mẹ, khoảng cách giữa những trang lịch sử và thế hệ hôm nay dường như được rút ngắn.
Đó cũng là dụng ý xuyên suốt của cuộc giao lưu. Không chỉ để người trẻ “nghe kể chuyện lịch sử”, chương trình đặt họ vào cuộc đối thoại với lịch sử, để từ câu chuyện của thế hệ đi trước tự xác định phần trách nhiệm của mình.
Viết tiếp bản hùng ca bằng nhiệm vụ của thời bình
Nếu phần đầu của tọa đàm đi tìm mạch nguồn, thì phần “Viết tiếp bản hùng ca” đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: Tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được thể hiện như thế nào khi đất nước không còn chiến tranh?
Ba khách mời tham gia phần giao lưu gồm Trung tướng Đào Văn Nhận, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam); Thượng úy Kiều Ngọc Hưng, Chính trị viên Đại đội Phòng hóa, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
Sự lựa chọn ba khách mời tạo nên ba góc nhìn: Người chỉ huy trước yêu cầu xây dựng lực lượng và bảo vệ Thủ đô; người chiến sĩ trẻ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ; nhà nghiên cứu văn hóa nhìn vào cội nguồn tinh thần của con người Hà Nội.

Các đại biểu chia sẻ tại Tọa đàm.
Trong thời bình, những nguy cơ đối với an toàn của Thủ đô đã thay đổi. Bên cạnh nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu là yêu cầu ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, cháy nổ, sự cố và những tình huống cứu hộ, cứu nạn. Các nội dung trao đổi với Trung tướng Đào Văn Nhận tập trung vào cách tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được chuyển hóa trong công tác tham mưu, xử lý tình huống; mối quan hệ giữa nhiệm vụ quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội; cùng những yếu tố làm nên hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Thủ đô.
Ở cấp độ người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, câu chuyện đặt ra với Thượng úy Kiều Ngọc Hưng rất cụ thể: Trong lũ quét, sạt lở hay hỏa hoạn, khi người dân tìm cách rời khỏi nơi nguy hiểm thì người lính nhiều khi phải đi theo chiều ngược lại để cứu người, bảo vệ tài sản. Chính trong những tình huống ấy, phẩm chất người lính thời bình được kiểm chứng không bằng lời nói, mà bằng năng lực, kỷ luật, trách nhiệm và khả năng có mặt đúng lúc khi nhân dân cần.
Từ góc nhìn văn hóa, TS. Nguyễn Viết Chức cho rằng, tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không hình thành một cách ngẫu nhiên mà được nuôi dưỡng từ chiều sâu lịch sử, văn hóa và truyền thống yêu nước của Thăng Long - Hà Nội. Trong những thời khắc đất nước đứng trước thử thách, phẩm chất ấy được thể hiện bằng ý chí bảo vệ từng ngôi nhà, góc phố trong mùa đông năm 1946, rồi tiếp tục được khẳng định bằng bản lĩnh, trí tuệ trong 12 ngày đêm chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội cuối năm 1972.

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) chia sẻ tại Toạ đàm.
Theo TS. Nguyễn Viết Chức, chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, vì thế, không chỉ mang ý nghĩa quân sự. Đằng sau chiến thắng ấy là trí tuệ, ý chí và khả năng sáng tạo của con người Việt Nam trước một đối phương có ưu thế vượt trội về phương tiện, vũ khí hiện đại. Điều đặc biệt ở con người Hà Nội là trong những thời khắc khốc liệt nhất vẫn thể hiện được sự kiên cường, bình tĩnh, đồng thời gìn giữ nét văn hóa, sự thanh lịch, hào hoa vốn có. Chính chiều sâu văn hiến ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần để Hà Nội vượt qua những thử thách của chiến tranh và tiếp tục trở thành nguồn lực trong xây dựng, bảo vệ Thủ đô hôm nay.
Nhìn từ toàn bộ diễn biến của tọa đàm, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” vì thế không thể được đặt trong một khuôn nghĩa bất biến. Trong chiến tranh, đó là quyết tâm chấp nhận hy sinh để giữ gìn từng ngôi nhà, từng góc phố, bảo vệ Thủ đô. Trong thời bình, tinh thần ấy được chuyển hóa thành yêu cầu sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó, làm chủ vũ khí, trang bị, nâng cao chất lượng huấn luyện. Đó cũng là khả năng ứng phó với thiên tai, sự cố, cứu hộ, cứu nạn; là mối quan hệ gần gũi với nhân dân và trách nhiệm bảo vệ sự bình yên của thành phố.
Sau hai giờ giao lưu, những câu chuyện từ chiến lũy Hà Nội năm 1946, trận địa phòng không năm 1972 đến thao trường thời bình đã nối liền các thế hệ người lính Thủ đô. Hoàn cảnh và nhiệm vụ đã khác, nhưng điều được trao lại vẫn là bản lĩnh, trách nhiệm và tinh thần sẵn sàng nhận việc khó. Bởi truyền thống chỉ thực sự được tiếp nối khi những giá trị của quá khứ hiện diện trong cách mỗi người hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/viet-tiep-ban-hung-ca-quyet-tu-de-to-quoc-quyet-sinh-453117.html

