Vĩnh Long: Cụ bà mòn mỏi chờ đợi trong hành trình thừa kế đất
Là người được thừa kế đất hơn 2.800 m2 đất do chị gái để lại nhưng hơn 20 năm qua cụ Nguyễn Thị Sương (SN 1933, trú xã Hương Mỹ, tỉnh Vĩnh Long) vẫn chưa làm được 'sổ đỏ' vì một phần khu đất vướng tranh chấp.
Cho, cho ở nhờ hay cho thuê đất?

Cụ Nguyễn Thị Sương đã gần trăm tuổi vẫn chưa làm được "sổ đỏ" cho thửa đất thừa kế
Theo tài liệu, cụ Nguyễn Thị Chuẩn (Mẹ Việt Nam Anh hùng, trú xã Hương Mỹ, tỉnh Vĩnh Long (xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre cũ) được cha mẹ để lại để lại cho 2.800m2, thuộc thửa số 174, tờ bản đồ số 2. Năm 1992, cụ Chuẩn thực hiện đăng ký thửa đất trên trong hồ sơ địa chính.
Năm 2008, cụ Chuẩn qua đời, do chỉ có 1 người con duy nhất đã hy sinh nên cụ Nguyễn Thị Sương (em gái cụ Chuẩn) được gia đình chỉ định thừa kế khu đất.
Tuy nhiên, đến nay, cụ Sương vẫn chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do xảy ra tranh chấp với gia đình người cháu nuôi của cụ Nguyễn Thị Tr. (đã qua đời năm 2014).
Các bên đều thừa nhận nguồn gốc phần đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình cụ Sương. Năm 1964, gia đình cụ Sương cho cụ Tr. cất ngôi nhà nhỏ diện tích gần 50m2 trên thửa đất 174 để ở và bán tạp hóa mưu sinh. Trong quá trình sinh sống, cụ Tr. có cho bà T.T.M.V. (SN 1961, cháu nuôi) ở cùng. Bà V. sau đó lấy chồng và cả gia đình cùng sinh sống tại ngôi nhà của cụ Tr.
Năm 1989, UBND xã Cẩm Sơn làm hợp đồng về việc mượn toàn bộ thửa đất rộng 2.800m2 do gia đình cụ Sương trực tiếp quản lý, sử dụng để lập thành chợ Cẩm Sơn với 20 kiot, mỗi kiot rộng 48m. Trong đó có cả phần đất gia đình cụ Tr. đang sinh sống. Theo quy ước của UBND xã Cẩm Sơn, mỗi tiểu thương thuê kiot có nghĩa vụ trả cho gia đình cụ Sương 3 giạ lúa/năm (mỗi giạ lúa tương đương 20kg).
Năm 1995, UBND xã Cẩm Sơn chuyển chợ đến nơi khác nên lập biên bản trả lại toàn bộ thửa đất 174 cho gia đình cụ Sương. Gia đình cụ Sương trả lại cho UBND xã Cẩm Sơn 4 triệu đồng tiền bơm cát san lấp lúc mượn đất.
Sau khi không còn chợ, các tiểu thương rời đi chỉ còn cụ Tr. và tiểu thương T. vẫn ở trên thửa đất này đến nay. Hiện, tiểu thương T., vẫn còn trả định kỳ 3 giạ lúa/năm cho cụ Sương.
Năm 2009, tức khoảng 1 năm sau ngày cụ Chuẩn qua đời, vợ chồng bà V. xây cất thêm ngôi nhà mới cạnh nhà cụ Trong để lại. Gia đình cụ Sương tiến hành ngăn cản, dẫn tới mâu thuẫn. UBND xã Cẩm Sơn đã lập biên bản ngăn chặn việc tranh chấp.
Tại biên bản này, cụ Sương cho rằng gia đình cụ đã nhiều lần thương lượng, hòa giải nhưng không thành nên yêu cầu dừng việc thi công, khi nào làm xong giấy tờ mới được thi công. Còn bà Vân thừa nhận gia đình mình có mướn phần đất này từ năm 1964 của gia đình cụ Sương, từ ruộng đắp thành nền nhà ở cho đến nay, đóng lúa đầy đủ…
Từ đó đến nay, gia đình bà V. ở trong căn nhà trên thửa đất diện tích 213m2 thuộc thửa đất số 174. Phần đất của bà V. sử dụng bao chọn gần hết diện tích đất mặt tiền của thửa 174 tại vị trí tiếp giáp đường giao thông xã Cẩm Sơn nối ra Quốc lộ 57. Trong khi nhà cụ Sương đang ở ngay phía sau nhà bà V.
Chưa có hồi kết

Khu đất đang tranh chấp
Năm 2019, cụ Sương khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên gia đình bà V. dỡ 2 căn nhà để trả lại 213m2 đất để cụ quản lý, sử dụng và đăng ký cấp GCNQSDĐ.
Ngày 16/8/2023, TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (nay là TAND Khu vực 9, tỉnh Vĩnh Long) đưa vụ án ra xét xử và ban hành bản án số 93/2023/DS-ST, tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Sương. Tạm giao cho gia đình bà V. quản lý, sử dụng 213m2 đất trên. Không đồng tình, cụ Sương kháng cáo.
Ngày 29/2/2024, TAND tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm và ban hành bản án số 165/2024/DS-PS với nội dung y án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của cụ Sương. Tiếp tục tạm giao diện tích đất trên cho gia đình bà V. quản lý, sử dụng.
Theo HDXX, tuy UBND xã Cẩm Sơn mượn toàn bộ thửa đất làm chợ và trả lại cho gia đình cụ Sương, nhà của cụ Trong thuộc một phần thửa đất này nhưng phía gia đình cụ Sương không chứng minh được việc cho gia đình cụ Tr. thuê đất và thỏa thuận việc đóng thuế mỗi năm 3 giạ lúa.
Tuy nhiên, bà V. chỉ được tạm giao đất do 213m2 đất trên nằm hoàn toàn trong hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ. Đồng thời, do cụ Tr. qua đời vẫn còn thời hiệu yêu cầu chia thừa kế và hàng thừa kế của cụ Tr. chưa xác định được.
Từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, UBND xã Hương Mỹ đã nhiều lần nhận được hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ của bà V. Tuy nhiên, việc đo đạc lại diện tích thực tế, xác định ranh, ký xác nhận tứ cận không thể diễn ra thuận lợi, hơn nữa, bản án chỉ tuyên tạm giao cho gia đình bà V. quản lý sử dụng và phần lớn diện tích đất do bà V. quản lý nằm trên hành lang lộ giới…nên đến nay bà V. chưa được cấp GCNQSDĐ.
Trong khi đó, phía cụ Sương đề nghị cấp GCNQSDĐ cho toàn bộ thửa 174 diện tích 2.800m2 do cụ Chuẩn để lại nên UBND xã Hương Mỹ cũng không có cơ sở chấp nhận vì không đúng với nội dung trong bản án số 165/2024/DS-PS của TAND tỉnh Bến Tre.
Hiện, phía cụ Sương đã có đơn đề nghị giám đốc thẩm với mong muốn được xét xử lại vụ án.












