Vốn ngân hàng cho DNNVV: Sau lãi suất là gánh nặng phí, bảo hiểm, hồ sơ

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) không chỉ chịu áp lực từ lãi suất niêm yết mà còn gánh nặng bởi chi phí bảo hiểm, định giá tài sản, hoàn thiện hồ sơ và biên độ điều chỉnh lãi suất. Do đó, các tổ chức tín dụng cần minh bạch tổng chi phí khoản vay, đơn giản hóa hồ sơ và rút ngắn thời gian thẩm định, giải ngân để tránh làm DN lỡ nhịp kinh doanh.

Ngoài ra, các DN cũng đề xuất, ngân hàng cần từng bước đổi mới phương thức đánh giá tín dụng, giảm sự phụ thuộc cứng nhắc vào tài sản bảo đảm.

Chi phí vốn không chỉ nằm ở lãi suất

Ngày 18-9, tại Hội nghị "Đẩy mạnh triển khai các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn cho DNNVV", ông Nguyễn Xuân Bắc, Vụ phó Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, DNNVV là một trong 5 lĩnh vực ưu tiên được hưởng chính sách trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND theo quy định của NHNN thấp hơn các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường khác.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: TH

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: TH

Hiện nay, mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với nhóm lĩnh vực ưu tiên là 4%/năm khi khách hàng có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh.

Tin nhắn thông báo tăng lãi suất cho vay được một ngân hàng liên tục gửi đến DN. Ảnh: NT

Tin nhắn thông báo tăng lãi suất cho vay được một ngân hàng liên tục gửi đến DN. Ảnh: NT

Từ tháng 8-2026, NHNN triển khai chương trình tín dụng ưu đãi theo Công văn 7125/NHNN-TD dành cho DNNVV và các lĩnh vực thúc đẩy tăng trưởng, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm. Sau hơn một tháng, đã có 19 ngân hàng đăng ký tham gia chương trình, với tổng quy mô tín dụng khoảng 407.000 tỷ đồng.

Theo khảo sát của FiinGroup, chỉ có 20,5% doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ tiếp cận được vốn vay

Theo khảo sát của FiinGroup, chỉ có 20,5% doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ tiếp cận được vốn vay

NHNN và các ngân hàng cũng đang đẩy mạnh tín dụng cho DNNVV thông qua nhiều gói vay ưu đãi, hỗ trợ vốn lưu động, đầu tư, xuất nhập khẩu và chuyển đổi từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp.

Đến 31-8-2026, dư nợ DNNVV đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so với cuối năm 2025, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế.

Lũy kế từ đầu năm, các ngân hàng đã giải ngân hơn 3,8 triệu tỷ đồng cho khu vực này. Trong đó, thương mại - dịch vụ chiếm 70,48%; công nghiệp - xây dựng chiếm 27,87%; nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 1,65%.

Những con số trên cho thấy dòng vốn dành cho khu vực DNNVV đang được mở rộng. Tuy nhiên, từ phía doanh nghiệp, khả năng tiếp cận vốn vẫn còn những điểm nghẽn.

Từ góc độ DN, bà Nguyễn Thị Lan Hương, đại diện Hội Doanh nghiệp trẻ Việt Nam, cho biết các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc có vay được vốn hay không, mà còn trăn trở về chi phí vốn, tài sản bảo đảm, kỳ hạn vay, cũng như thủ tục và thời gian giải ngân.

DN không chỉ chịu áp lực từ lãi suất niêm yết mà còn gánh nặng bởi chi phí bảo hiểm, định giá tài sản, hoàn thiện hồ sơ và biên độ điều chỉnh lãi suất.

Do đó, các tổ chức tín dụng cần minh bạch tổng chi phí khoản vay, đơn giản hóa hồ sơ và rút ngắn thời gian thẩm định, giải ngân để tránh làm doanh nghiệp lỡ nhịp cơ hội kinh doanh, nhất là trong mùa thu hoạch và xuất khẩu cao điểm.

Bên cạnh chi phí, bà Hương cho rằng cần đổi mới phương thức thẩm định để đánh giá đúng năng lực tạo dòng tiền của DN.

Nhiều DNNVV, hộ kinh doanh hoặc hợp tác xã có ít tài sản bảo đảm nhưng lại có thị trường và dòng tiền ổn định nhờ tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn.

Do đó, các tổ chức tín dụng nên đa dạng hóa phương thức đánh giá rủi ro dựa trên dữ liệu tin cậy về doanh thu, hóa đơn, đơn hàng và lịch sử thanh toán thay vì chỉ phụ thuộc vào tài sản thế chấp truyền thống. “Các DN không xin cơ chế cấp phát vốn, mà mong muốn một thị trường tín dụng minh bạch, dễ tiếp cận, đánh giá đúng năng lực và chia sẻ rủi ro hợp lý", đại diện Hội Doanh nghiệp trẻ Việt Nam nêu.

“Ngân hàng quá phụ thuộc tài sản đảm bảo”, không hạ chuẩn cho vay

Tại Hội nghị, một số DN cho biết, ngân hàng vẫn quá phụ thuộc vào tài sản đảm bảo mà không nhìn bằng dòng tiền và năng lực kinh doanh, trong khi ngân hàng cho rằng, không thể hạ chuản tín dụng để đảm bảo an toàn.

Theo ông Đỗ Văn Vệ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hưng Yên, mặc dù nhu cầu vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất lớn và các ngân hàng cũng luôn mong muốn tìm kiếm khách hàng tốt, giữa hai bên vẫn tồn tại một khoảng cách không nhỏ.

Thực trạng này, theo ông Vệ, xuất phát từ việc các ngân hàng vẫn quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, trong khi nhiều DN còn hạn chế về năng lực quản trị, tính minh bạch tài chính, hồ sơ chứng minh dòng tiền cũng như phương án sản xuất kinh doanh.

Để giải quyết bài toán này, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên đưa ra bốn nhóm giải pháp trọng tâm.

Trước hết, cần từng bước đổi mới phương thức đánh giá tín dụng, giảm sự phụ thuộc cứng nhắc vào tài sản bảo đảm. Các tổ chức tín dụng nên ứng dụng công nghệ mạnh mẽ hơn để đánh giá toàn diện doanh nghiệp dựa trên dòng tiền, hợp đồng, lịch sử thanh toán, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và triển vọng tạo ra giá trị trong tương lai, thay vì chỉ nhìn vào tài sản hiện có.

Thứ hai, cần đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù của từng nhóm ngành như sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ hoặc các doanh nghiệp đang chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Việc phát triển tín dụng dựa trên chuỗi cung ứng, tài trợ đơn hàng hay các gói vốn trung và dài hạn sẽ giúp DN chủ động đầu tư máy móc và công nghệ.

Thứ ba, Nhà nước cần xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý thông qua việc nâng cao hiệu quả của các quỹ bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ DN. Khi có cơ chế chia sẻ rủi ro công bằng, ngân hàng có thể đổi mới thẩm định và mở rộng tín dụng an toàn hơn mà không phải hạ chuẩn tín dụng.

Thứ tư, bản thân các DNNVV cũng phải chủ động thay đổi, nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, quản lý dòng tiền hiệu quả và thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước để xây dựng phương án kinh doanh khả thi.

Theo ông Đỗ Văn Vệ, trong chặng đường mới, quan hệ giữa ngân hàng và DN cần vượt lên trên lằn ranh "cho vay - đi vay" đơn thuần để trở thành những đối tác đồng hành cùng phát triển, mang lại động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Ở phía ngân hàng, ông Nguyễn Xuân Bắc- Vụ phó Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN cho biết, một trong những khó khăn là việc cho vay DNNVV ngày càng phải tuân thủ chặt chẽ các chuẩn mực quản trị rủi ro, nên ngân hàng không thể hạ chuẩn điều kiện tín dụng. Trong khi đó, thông tin về DNNVV còn thiếu và phân tán, đặc biệt với doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm, khiến ngân hàng khó đánh giá chính xác dòng tiền và khả năng trả nợ.

Bên cạnh đó, cơ chế bảo lãnh tín dụng và các quỹ hỗ trợ DNNVV chưa phát huy đầy đủ hiệu quả, làm hạn chế thêm khả năng mở rộng tín dụng.

Nhìn chung, theo đại diện NHNN, khó tiếp cận vốn đến từ cả ngân hàng và DN; ngân hàng cần kiểm soát rủi ro, còn nhiều DNNVV chưa đáp ứng được yêu cầu về tài chính, minh bạch thông tin, tài sản bảo đảm và phương án kinh doanh.

Như vậy, bài toán tiếp cận vốn của DNNVV không chỉ nằm ở mặt bằng lãi suất. Để dòng vốn đến được đúng đối tượng, cả ngân hàng và doanh nghiệp đều cần thay đổi cách tiếp cận: ngân hàng tăng khả năng đánh giá doanh nghiệp dựa trên dữ liệu và dòng tiền, trong khi DN phải nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị và chất lượng phương án kinh doanh.

Chỉ 20,5% DNNVV tiếp cận được vốn vay

Theo báo cáo "Doanh nghiệp SME tại Việt Nam: Mức độ trưởng thành và khả năng tiếp cận tín dụng" của FiinGroup, tỷ lệ DN được tiếp cận vốn vay trong năm 2026 được ghi nhận: DN siêu nhỏ: 8,8%; DN nhỏ và DN vừa: 30,9%. Tính chung toàn bộ khu vực SME, bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa là 20,5% DN tiếp cận được vốn vay.

Nha Trang

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/von-ngan-hang-cho-dnnvv-sau-lai-suat-la-ganh-nang-phi-bao-hiem-ho-so-1757101.html