Vững bước trong kỷ nguyên thịnh vượng, phát triển hùng cường

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ Đại hội VI (1986). Nhìn lại 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo đà để bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa khát vọng phát triển hùng cường.

Thành tựu về thể chế hóa, hoàn thiện cơ sở pháp lý

Trong suốt 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, chúng ta đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các gian trưng bày tại ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc liên địa bàn dân cư phường Ba Đình. Ảnh: Duy Linh/Nhân dân

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các gian trưng bày tại ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc liên địa bàn dân cư phường Ba Đình. Ảnh: Duy Linh/Nhân dân

Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong 40 năm qua ở Việt Nam cho thấy những thành tựu chúng ta đã đạt được: Đó là, qua 40 năm đổi mới, các quan điểm lý luận của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã từng bước được thể chế hóa, cụ thể hóa thành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như các chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ, các cấp, các ngành, địa phương để tổ chức triển khai thực hiện; hệ thống thể chế không ngừng được hoàn thiện theo yêu cầu phát triển của từng giai đoạn, tạo cơ sở pháp lý ngày càng vững chắc cho quá trình chuyển đổi và vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam.

Thể chế phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế đã có bước tiến lớn, thừa nhận sự đa dạng hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, các chủ thể tự do kinh doanh và cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Thể chế phát triển các yếu tố thị trường, các loại thị trường từng bước được hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Thể chế phát huy vai trò của Nhà nước, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội được định hình ngày càng rõ hơn. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam tiếp tục được thể chế hóa, cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách liên quan đến phân phối lại, đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội, không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch thúc đẩy công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Chủ trương phát triển kinh tế nhanh và bền vững trở thành quan điểm phát triển, mục tiêu phát triển đề ra trong các chương trình, kế hoạch, quy hoạch kể cả cấp quốc gia, cấp ngành và cấp tỉnh.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1 (tại Hà Nội) tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Ảnh Lê Hải

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1 (tại Hà Nội) tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Ảnh Lê Hải

Ba đột phá chiến lược, các mô hình, phương thức phát triển kinh tế mới được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp và được thể chế hóa thành nhiều cơ chế, chính sách để thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, áp dụng một số mô hình kinh tế mới được đẩy nhanh. Các mô hình kinh tế mới đã được các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, lồng ghép vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương.

Việc thể chế hóa nâng cao nội lực của các chủ thể kinh tế trong nước được đẩy mạnh, đặc biệt đối với phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo nên các doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam nêu rõ, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã mang lại những thành tựu lớn.

Thứ nhất, trong nền kinh tế Việt Nam đã hình thành nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh. Các chủ thể kinh tế tự do kinh doanh, đóng góp vào sự phát triển và khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế Nhà nước từng bước phát huy được vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể phát triển và chuyển đổi sang mô hình kiểu mới phù hợp hơn với kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế nước ta.

Tròn 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025), đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới. Ảnh: Đinh Phương

Tròn 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025), đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới. Ảnh: Đinh Phương

Các yếu tố thị trường và các loại thị trường đã có bước phát triển đáng kể, từng bước đồng bộ, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường ngày càng đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ nguồn lực phát triển. Thị trường yếu tố sản xuất tiếp tục có bước phát triển. Thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp. Thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm mặc dù gặp khó khăn nhưng vẫn tiếp tục phát triển. Thị trường bất động sản ngày càng mở rộng cả về vốn, số lượng, quy mô, loại sản phẩm, số lượng doanh nghiệp tham gia. Thị trường lao động về cơ bản đã được hình thành, đã có những bước phát triển về chiều rộng và chiều sâu, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển tích cực, từng bước phát huy vai trò kết nối, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế.

Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường được đổi mới sát thực và hiệu quả hơn. Nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế bằng các công cụ pháp luật, kế hoạch, quy hoạch, chính sách và các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Hiện đại hóa hành chính thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển chính quyền điện tử được đẩy mạnh. Năng lực quản lý và điều hành của Chính phủ ngày càng hiệu quả hơn. Vai trò của thị trường được coi trọng, từng bước hướng tới đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của xã hội, tổ chức xã hội ngày càng được phát huy trong nền kinh tế, góp phần bổ khuyết cho Nhà nước và thị trường. Cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được đẩy mạnh. Nhiều rào cản tham gia thị trường được dỡ bỏ; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt, khởi nghiệp sáng tạo và phát triển doanh nghiệp sôi động hơn.

Hội nhập kinh tế quốc tế được chủ động và tích cực triển khai, là điểm sáng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong 10 năm gần đây. Tính đến tháng 10-2024, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn trên toàn cầu và liên kết kinh tế song phương, đa phương, khu vực và liên khu vực, mở ra những thị trường xuất khẩu tiềm năng, vận động, thu hút đầu tư FDI, viện trợ ODA từ các đối tác hàng đầu trên thế giới. Nhờ đó đã tranh thủ được lượng vốn đầu tư, tri thức, công nghệ mới và các nguồn lực quan trọng khác từ bên ngoài, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tính định hướng XHCN tiếp tục được giữ vững trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” từng bước được thực hiện. Với sự tăng lên đáng kể về tiềm lực, quy mô nền kinh tế, đã bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâm nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Quan hệ phân phối tiền lương, thu nhập dựa chủ yếu vào cơ chế thỏa thuận và phụ thuộc vào năng suất lao động. Mức lương cơ sở và lương tối thiểu vùng tiếp tục được điều chỉnh tăng.

Các chính sách người có công với cách mạng, trợ giúp xã hội, an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân (đặc biệt các chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19) được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau”.

 Việt Nam đã phát triển vượt bậc sau 40 năm đổi mới. Ảnh minh họa

Việt Nam đã phát triển vượt bậc sau 40 năm đổi mới. Ảnh minh họa

Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tiếp tục tăng. Tỉ lệ người nghèo có xu hướng giảm, tầng lớp trung lưu tăng và chiếm đa số, tỉ lệ người giàu cũng tăng nhanh. Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số hạnh phúc của Việt Nam liên tục được cải thiện. Vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN được phát huy.

Thứ hai, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc và ngày càng được cải thiện, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng. Năm 2024, GDP của Việt Nam tính theo giá hiện hành ước đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD, dự báo đứng thứ 33 thế giới; GDP (tính theo PPP) đạt khoảng 1.559 tỉ USD, xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á, thứ 25 thế giới; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành ước đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 2023.

Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện. Các mối quan hệ biện chứng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được giải quyết tốt hơn. Việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhanh và bền vững, ba đột phá chiến lược và các mô hình, phương thức phát triển kinh tế mới đạt nhiều kết quả tích cực. Phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng đạt những thành tựu nhất định.

Nhìn lại, những thành tựu, kinh nghiệm của 40 năm đổi mới không chỉ là niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, mà chính là căn cứ và niềm tin vững chắc để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ hơn, phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên CNXH.

Hạ Thi

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/vung-buoc-trong-ky-nguyen-thinh-vuong-phat-trien-hung-cuong-734158.html