Vùng đất khó sẵn sàng vào năm học mới
Năm học 2026-2027 đang đến gần, các trường học nơi vùng khó của tỉnh khẩn trương rà soát đội ngũ, sửa chữa trường lớp và bổ sung thiết bị. Từ nhu cầu thực tế của từng địa bàn, ngành Giáo dục tập trung điều tiết giáo viên, sắp xếp mạng lưới trường lớp, ưu tiên đầu tư những hạng mục cấp thiết, tạo điều kiện để năm học mới diễn ra thuận lợi.
Chuẩn bị sát nhu cầu từng địa bàn
Tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Sơn, xã Trung Sơn, giáo viên đã chuẩn bị sách giáo khoa, kiểm tra phòng học và sắp xếp các điều kiện đón học sinh trở lại. Trên địa bàn xã, hệ thống điện, nước, chống sét, mái che, tường rào, cổng trường cùng các phòng chức năng, thiết bị dạy học cũng được rà soát để sửa chữa kịp thời. Những hạng mục liên quan trực tiếp đến an toàn được ưu tiên xử lý trước ngày khai giảng.

Các thầy, cô giáo Trường PTDTBT THCS Trung Sơn chuẩn bị sách giáo khoa cho học sinh.
Trung Sơn hiện có 52 lớp, 3/4 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 2 trường phổ thông dân tộc bán trú. Hệ thống cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tuy nhiên, với học sinh ở những khu vực xa trung tâm, sự chuẩn bị còn được tập trung vào nơi ăn, ở, đi lại và phương án ứng phó thiên tai, cháy nổ, tai nạn thương tích, đuối nước.
Theo đồng chí Đinh Hải Nam - Bí thư Đảng ủy xã, địa phương luôn ưu tiên nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Trước mắt, các trường tập trung xử lý những hạng mục cấp thiết, bảo đảm cơ sở vật chất và an toàn trước khi đón học sinh trở lại.
Cùng với chuẩn bị trường lớp, Trung Sơn triển khai tổ chức, sắp xếp lại 4 cơ sở giáo dục thành 3 trường. Trường Mầm non Trung Sơn và Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Sơn được giữ nguyên; hai trường tiểu học trên địa bàn sáp nhập thành Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Trung Sơn.
Việc tổ chức lại trường, lớp được địa phương tính toán trên cơ sở phân bố dân cư, điều kiện giao thông và khả năng huy động học sinh đến lớp; đồng thời cân nhắc việc duy trì những điểm trường cần thiết để học sinh ở xa không phải đi lại quá nhiều. Mục tiêu đặt ra là tinh gọn đầu mối nhưng không làm giảm cơ hội học tập của trẻ em vùng khó. Việc sắp xếp sẽ tạo điều kiện tập trung đội ngũ, sử dụng hiệu quả phòng học và thiết bị.
Mỗi địa bàn có những yêu cầu riêng. Ở Trường Mầm non Thu Ngạc, xã Tân Sơn, trẻ em dân tộc Mường chiếm 98% trong tổng số 372 trẻ. Vì vậy, bên cạnh sửa sang trường lớp, giáo viên chú trọng tăng cường tiếng Việt, đồng thời sử dụng tiếng Mường để trẻ tự tin giao tiếp và tham gia các hoạt động. Việc chuẩn bị năm học ở đây bắt đầu từ chính đặc điểm ngôn ngữ và khả năng hòa nhập của trẻ.
Theo Nhà giáo Ưu tú Phùng Quốc Lập - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, trước năm học mới, các địa phương, nhà trường tập trung rà soát đồng bộ trường, lớp, đội ngũ, sách giáo khoa, thiết bị và những điều kiện bảo đảm an toàn. Chỉ thị số 24 của UBND tỉnh cũng yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; sắp xếp mạng lưới trường học phù hợp với quy mô dân số và điều kiện từng địa bàn, không để việc tổ chức lại các cơ sở giáo dục ảnh hưởng đến quyền, cơ hội học tập của học sinh.
Ưu tiên nguồn lực cho vùng khó
Năm học 2025-2026, ngành Giáo dục tuyển dụng 29 sinh viên tốt nghiệp xuất sắc theo chính sách thu hút cùng 1.334 giáo viên, nhân viên. Theo số liệu của ngành, số giáo viên được bổ sung tương đương 30,2% số còn thiếu so với định mức; các cơ sở giáo dục cũng được tạo điều kiện ký hợp đồng theo Nghị định số 111/2022/NĐ-CP. Lực lượng này đã bù đắp một phần vị trí còn thiếu, giảm áp lực bố trí người đứng lớp và triển khai các môn học theo chương trình mới.

Cô và trò Trường Mầm non Thu Ngạc, xã Tân Sơn hân hoan trước thềm năm học mới.
Cùng với tuyển dụng, ngành Giáo dục tiếp tục rà soát đội ngũ theo từng trường, cấp học và môn học để điều động, biệt phái giáo viên từ nơi thừa đến nơi thiếu. Tại địa bàn đặc biệt khó khăn, phương án dạy liên trường, liên cấp được áp dụng phù hợp; trường thiếu nhân lực do chưa đủ biên chế hoặc có giáo viên nghỉ thai sản được chủ động ký hợp đồng để tránh gián đoạn việc dạy học.
Việc điều tiết cũng tính đến khoảng cách giữa các điểm trường, khối lượng công việc và chế độ dành cho giáo viên. Bước vào năm học 2026-2027, đội ngũ hiện có cùng chỉ tiêu hợp đồng về cơ bản đáp ứng yêu cầu đứng lớp.
Trước khi hợp nhất, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tại khu vực Phú Thọ đạt 93,9%, Vĩnh Phúc đạt 84,63%, khu vực Hòa Bình đạt 61%. Một số trường vùng khó vẫn thiếu phòng học bộ môn, thiết bị dạy học và phương tiện ứng dụng công nghệ thông tin; những nhu cầu thiết yếu về điện, nước sạch, công trình vệ sinh, nơi ăn nghỉ và đường đến trường của học sinh chưa được đáp ứng đầy đủ.
Sau sắp xếp, điều kiện trường học giữa các khu vực còn chênh lệch khá lớn. Ngành Giáo dục đang tổng hợp nhu cầu của từng cơ sở, xác định thứ tự ưu tiên và xây dựng phương án đầu tư phù hợp. Nguồn lực trước hết tập trung cho những trường còn thiếu hạ tầng thiết yếu phục vụ việc dạy và học; đồng thời tính toán khả năng sử dụng lâu dài để tránh đầu tư dàn trải.
Chuẩn bị cho năm học 2026-2027 cũng là dịp để rà soát toàn diện những điều kiện còn thiếu tại từng địa bàn. Bố trí đúng giáo viên, đầu tư đúng hạng mục và hỗ trợ đúng đối tượng sẽ giúp nguồn lực phát huy hiệu quả, tạo điều kiện để học sinh vùng khó được học tập trong môi trường ngày càng đầy đủ, an toàn hơn.
Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/vung-dat-kho-san-sang-vao-nam-hoc-moi-nbsp-260317.htm
