‘Vườn ươm’ huy chương và khát vọng Việt Nam vươn ra thế giới - Kỳ 1: Từ những tấm huy chương đến bài toán phát hiện tài năng

Thành tích Olympic quốc tế tiếp tục ghi nhận chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời cho thấy nguồn tài năng trẻ cần được phát hiện, bồi dưỡng.

Trong những năm gần đây, học sinh Việt Nam liên tục đạt thành tích cao tại các kỳ Olympic khu vực và quốc tế ở các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tin học. Thành tích không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn ở chất lượng huy chương, thứ hạng của các đội tuyển và sự duy trì ổn định qua nhiều năm.

Việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lực nổi trội càng có ý nghĩa trong bối cảnh đất nước đặt ra yêu cầu mới về phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc; giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đáng chú ý, Nghị quyết đặt nhiệm vụ đổi mới mô hình trường chuyên, trường năng khiếu để tập trung ươm tạo nhân tài quốc gia, mở rộng các lớp chuyên STEM/STEAM.

Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, nhân tài trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Đây cũng chính là những lĩnh vực gắn chặt với thế mạnh của học sinh Việt Nam tại các kỳ Olympic Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tin học.

Từ những thành tích Olympic quốc tế, tuyến bài làm rõ kết quả của quá trình phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh tài năng của ngành Giáo dục; những chính sách và con người đứng sau thành tích; đồng thời đặt ra yêu cầu nối dài quá trình phát triển tài năng từ phổ thông lên đại học, nghiên cứu khoa học và thị trường lao động, để những tấm huy chương không chỉ là thành tích tại một kỳ thi mà trở thành điểm khởi đầu của quá trình hình thành nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao cho đất nước.

Những tấm huy chương tiếp tục “đậm màu”

Năm 2026, thành tích của học sinh Việt Nam tại các kỳ Olympic khu vực và quốc tế tiếp tục được duy trì. Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Việt Nam có 8 đoàn tham dự các kỳ Olympic và tất cả các đội tuyển đều có học sinh đạt thành tích cao. Tổng cộng, học sinh Việt Nam giành 15 Huy chương Vàng, 21 Huy chương Bạc, 7 Huy chương Đồng và 1 bằng khen.

Tất cả các đội tuyển đều nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu toàn đoàn xét theo số Huy chương Vàng. Trong đó, đội tuyển Olympic Hóa học quốc tế giành 4 Huy chương Vàng, xếp đồng hạng nhất với Trung Quốc và Ấn Độ. Đội tuyển Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương giành 2 Huy chương Vàng, 4 Huy chương Bạc, xếp thứ 2, đồng hạng với Nhật Bản.

Tại Olympic Toán học quốc tế, học sinh Việt Nam giành 2 Huy chương Vàng, 3 Huy chương Bạc và 1 Huy chương Đồng, xếp thứ 5. Đội tuyển Olympic Vật lý quốc tế giành 4 Huy chương Vàng và 1 Huy chương Bạc, xếp thứ 7.

Ở Olympic Vật lý châu Á, đội tuyển giành 6 Huy chương Bạc và 2 Huy chương Đồng, xếp thứ 8. Olympic Sinh học quốc tế mang về 4 Huy chương Bạc, xếp thứ 8; Olympic Tin học quốc tế có 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 1 bằng khen, xếp thứ 8.

Tại Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế, đội tuyển Việt Nam giành 2 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc và 4 Huy chương Đồng, xếp thứ 9.

Đội tuyển Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế 2026.

Đội tuyển Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Trí tuệ nhân tạo quốc tế 2026.

Những kết quả năm 2026 tiếp nối thành tích được duy trì trong những năm trước. Riêng giai đoạn 2021-2025, theo thống kê của Cục Quản lý chất lượng, các đội tuyển Việt Nam giành 186 huy chương và bằng khen, gồm 58 Huy chương Vàng, 67 Huy chương Bạc, 48 Huy chương Đồng và 13 bằng khen.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, GS Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng - Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định: “Thành tích xuất sắc của đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Olympic khu vực và quốc tế trong những năm qua khẳng định chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời khẳng định hướng đi đúng trong công tác phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi của Bộ Giáo dục và Đào tạo”.

Theo GS Huỳnh Văn Chương, kết quả này cũng khẳng định việc lựa chọn khách quan, đúng quy chế; sự kế thừa cùng những giải pháp mới trong chỉ đạo, tổ chức tập huấn và lựa chọn cán bộ, giảng viên dẫn đoàn học sinh dự thi Olympic khu vực, quốc tế. Đáng chú ý, thành tích ở những môn đòi hỏi kỹ năng thực hành cao như Vật lý, Hóa học và Sinh học tiếp tục được duy trì. Theo Cục Quản lý chất lượng, kết quả này tạo động lực để học sinh theo đuổi các môn khoa học, đồng thời gắn với yêu cầu đẩy mạnh giáo dục STEM, AI.

Từ huy chương đến bài toán phát hiện tài năng

Đằng sau những con số về thành tích là những học sinh ở độ tuổi 16-18 đã sớm thể hiện năng lực nổi trội trong các lĩnh vực khoa học cơ bản. Ý nghĩa của các kỳ Olympic vì thế không chỉ dừng lại ở những tấm huy chương. Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tin học đều là những lĩnh vực khoa học nền tảng, có vai trò quan trọng đối với nhiều ngành khoa học, công nghệ. Việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lực nổi trội ở các môn học này góp phần tạo nguồn nhân lực tiềm năng cho khoa học, công nghệ ngay từ bậc phổ thông.

GS Huỳnh Văn Chương nhấn mạnh: “Kỳ thi Olympic là một trong những kênh thông tin quan trọng để phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, từng bước mở rộng nguồn nhân lực trẻ có tiềm năng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ngay từ bậc phổ thông. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đất nước trong giai đoạn mới”.

Từ kinh nghiệm trực tiếp tham gia tuyển chọn, tập huấn và dẫn đội tuyển Olympic Hóa học quốc tế suốt 14 năm qua, GS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, giá trị của thành tích cần được nhìn xa hơn kết quả một kỳ thi. “Giá trị lớn nhất của mỗi tấm huy chương không chỉ nằm ở thành tích, mà ở việc chúng ta đã phát hiện được một tài năng có tiềm năng trở thành nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao. Học sinh Olympic thường có tư duy logic, khả năng tự học, giải quyết vấn đề phức tạp, năng lực thực nghiệm và sức bền trí tuệ rất tốt, những phẩm chất nền tảng của người làm khoa học”, GS Nguyễn Ngọc Hà bày tỏ.

Đội tuyển Việt Nam tham dự Olympic Hóa học 2024 tại Saudi Arabia (GS Nguyễn Ngọc Hà ngoài cùng bên trái).

Đội tuyển Việt Nam tham dự Olympic Hóa học 2024 tại Saudi Arabia (GS Nguyễn Ngọc Hà ngoài cùng bên trái).

Tuy nhiên, những học sinh đã tham gia đội tuyển và giành huy chương là nhóm tài năng đã được nhận diện qua hệ thống tuyển chọn. Bên ngoài hệ thống trường chuyên, đội tuyển và các kỳ thi học sinh giỏi vẫn có thể còn những học sinh có tiềm năng nhưng chưa có điều kiện phù hợp để bộc lộ năng lực.

PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích: “Dưới góc độ tâm lý học giáo dục, tài năng không phải là một đặc điểm cố định có thể nhận ra chỉ qua điểm số. Đó là tiềm năng được phát triển nhờ động cơ bên trong mạnh, sự kiên trì, môi trường học tập và cơ hội được thử sức, đối diện với thách thức”.

Theo PGS.TS Trần Thành Nam, cách tiếp cận cần dần chuyển từ “tuyển người đã giỏi sẵn” sang “tìm và nuôi dưỡng tiềm năng ẩn giấu”. Việc sàng lọc cần được thực hiện trên diện rộng và ở nhiều giai đoạn, dựa trên nhiều yếu tố như tư duy, sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, sản phẩm học tập, tốc độ tiến bộ và mức độ say mê, thay vì chỉ dựa vào điểm thi. “Mỗi em cần có nhiều ‘cơ hội tham gia’ hệ thống bồi dưỡng, kể cả khi năng lực của các em bộc lộ muộn”, PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh.

Việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lực nổi trội càng có ý nghĩa trong bối cảnh đất nước đặt ra yêu cầu mới về phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặt trong yêu cầu của Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW, câu chuyện phát hiện tài năng cần được nhìn xa hơn phạm vi các kỳ thi học sinh giỏi hay Olympic quốc tế. Bài toán không chỉ là tìm được những học sinh xuất sắc để bồi dưỡng ở bậc phổ thông, mà còn là tạo một hành trình đủ dài để những năng lực đã được phát hiện sớm có thể tiếp tục phát triển thành nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao.

Với định hướng đổi mới mô hình trường chuyên, trường năng khiếu và mở rộng các lớp chuyên STEM/STEAM, vấn đề đặt ra từ Nghị quyết số 71-NQ/TW là mở rộng chức năng của giáo dục mũi nhọn từ “bồi dưỡng học sinh giỏi” sang “ươm tạo nhân tài”. Điều đó cũng đòi hỏi cách phát hiện tài năng rộng hơn: bên cạnh thành tích và điểm số cần chú ý đến tư duy sáng tạo, khả năng thực nghiệm, giải quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu và tốc độ phát triển của từng học sinh.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Từ yêu cầu này, câu chuyện về học sinh Olympic cũng cần được nhìn ở chặng đường sau những kỳ thi. Đây là nhóm học sinh đã sớm bộc lộ năng lực ở các môn khoa học cơ bản và Tin học, nhưng để những năng lực đó tiếp tục được phát triển cần có môi trường phù hợp khi các em bước vào đại học, tham gia nghiên cứu và lựa chọn nghề nghiệp.

Điều này đặt ra yêu cầu tăng sự gắn kết giữa công tác bồi dưỡng học sinh tài năng ở phổ thông với đào tạo và nghiên cứu ở bậc đại học. Nếu ở phổ thông, năng lực của các em được phát hiện và bồi dưỡng thông qua trường chuyên, các kỳ thi học sinh giỏi và đội tuyển Olympic, thì ở giai đoạn tiếp theo, cơ hội tham gia nghiên cứu, tiếp cận phòng thí nghiệm, làm việc với các nhà khoa học và theo đuổi những lĩnh vực khoa học, công nghệ cần được mở rộng. Qua đó, những tài năng được phát hiện sớm có thêm điều kiện để tiếp tục phát triển thay vì quá trình bồi dưỡng chủ yếu dừng lại sau khi kết thúc bậc phổ thông.

Từ góc độ đó, thành tích Olympic không chỉ là kết quả của một kỳ thi, mà còn đặt ra yêu cầu phát huy kinh nghiệm của hệ thống giáo dục mũi nhọn trong phát hiện và bồi dưỡng nguồn tài năng rộng hơn. GS Nguyễn Ngọc Hà cho rằng: “Trong giai đoạn mới cần chuyển từ tư duy ‘bồi dưỡng học sinh giỏi để đạt thành tích’ sang ‘phát hiện và ươm tạo nhân tài. Cùng với đó, cần mở rộng cơ hội phát hiện học sinh có tiềm năng ở các địa phương, tăng đánh giá năng lực thực nghiệm, tư duy sáng tạo và kết nối các em sớm hơn với trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nhà khoa học".

Nếu những tấm huy chương cho thấy kết quả của quá trình phát hiện và bồi dưỡng một nhóm học sinh xuất sắc, yêu cầu tiếp theo là mở rộng khả năng nhận diện tài năng và tạo một hành trình đủ dài để tiềm năng được tiếp tục phát triển.

Kỳ 2: Phía sau những ‘mùa vàng’ Olympic

Hoàng Thanh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/vuon-uom-huy-chuong-va-khat-vong-viet-nam-vuon-ra-the-gioi-ky-1-tu-nhung-tam-huy-chuong-den-bai-toan-phat-hien-tai-nang-474146.html