Vướng mắc về phạm vi phát biểu của Kiểm sát viên và xác định số lần cai nghiện ma túy bắt buộc

Thực tiễn kiểm sát việc đưa người nghiện ma túy đi cai nghiện bắt buộc đang phát sinh một số vướng mắc cần được hướng dẫn thống nhất.

 Hình ảnh Kiểm sát viên phát biểu tại một phiên tòa hình sự (ảnh minh họa).

 Hình ảnh Kiểm sát viên phát biểu tại một phiên tòa hình sự (ảnh minh họa).

Trong thực tiễn kiểm sát việc Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc đã phát sinh một số vướng mắc liên quan đến phạm vi phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp và cách xác định người cai nghiện lần đầu hay từ lần thứ hai trở lên để quyết định thời hạn cai nghiện.

Những vấn đề này đang gây lúng túng cho Tòa án và Viện kiểm sát khu vực trong quá trình vận dụng pháp luật.

Phạm vi phát biểu của Kiểm sát viên còn cách hiểu khác nhau

Theo Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 ngày 10/6/2026 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, Kiểm sát viên tham gia phiên họp để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.

Điểm i khoản 3 Điều 21 Pháp lệnh số 03 quy định: “Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”.

Từ quy định này, phạm vi phát biểu của Kiểm sát viên chủ yếu tập trung vào tính hợp pháp trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa thể hiện rõ việc Kiểm sát viên phải nêu quan điểm về thời hạn đưa người nghiện đi cai nghiện bắt buộc.

Trong khi đó, điểm c khoản 1 Điều 15 Quy chế kiểm sát ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ-VKSTC ngày 31/1/2024 của Viện trưởng VKSND tối cao lại quy định: “Trường hợp Viện kiểm sát đề xuất áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng thì phải nêu quan điểm về thời hạn áp dụng”.

Từ sự khác nhau này, thực tiễn hiện nay đang tồn tại hai cách áp dụng. Theo cách thứ nhất, phần lớn VKS khu vực khi tham gia phiên họp đều phát biểu cả về việc tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Một số Tòa án khu vực cũng thống nhất với cách thực hiện này.

Ở cách thứ hai, một số VKS khu vực chỉ phát biểu về việc tuân theo trình tự, thủ tục mà không nêu quan điểm về thời hạn áp dụng; một số Tòa án cũng đồng tình với cách hiểu này.

Từ góc độ cá nhân, tác giả cho rằng trong điều kiện pháp luật hiện hành, cách hiểu thứ hai có cơ sở hơn, tức Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật nhưng không phát biểu về thời hạn đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Lý do được đưa ra là Pháp lệnh số 03 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành là văn bản quy phạm pháp luật áp dụng chung, trong khi Quy chế kiểm sát của Ngành là quy định nội bộ, áp dụng trong ngành Kiểm sát.

Tuy nhiên, về lâu dài cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh số 03 theo hướng quy định rõ phạm vi phát biểu của Kiểm sát viên bao gồm cả việc tuân theo pháp luật và thời hạn áp dụng biện pháp.

Bởi lẽ, quyết định của Tòa án không chỉ xác định có hay không áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc mà còn phải xác định thời hạn cai nghiện. Đây là vấn đề tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của người bị áp dụng biện pháp.

Nếu Kiểm sát viên chỉ phát biểu về căn cứ áp dụng mà không thể hiện quan điểm đối với thời hạn thì, theo tác giả, vai trò kiểm sát đối với toàn bộ nội dung quyết định của Tòa án chưa được thể hiện đầy đủ.

Cách xác định “lần đầu”, “lần thứ hai trở lên” chưa rõ

Vướng mắc thứ hai liên quan đến cách xác định số lần đưa người nghiện ma túy đi cai nghiện bắt buộc.

Khoản 1 Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định: “Thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng”.

Như vậy, thời hạn cai nghiện 24 tháng hay 36 tháng phụ thuộc trực tiếp vào việc xác định đây là lần cai nghiện thứ mấy.

Tuy nhiên, theo bài viết, Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 và Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ chưa có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí xác định thế nào là “lần đầu” và “lần thứ hai trở lên”.

Một số vấn đề thực tiễn đặt ra là có tính những lần cai nghiện đã thực hiện trước ngày Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 có hiệu lực từ 1/7/2026 hay không; có tính cai nghiện tự nguyện vào số lần cai nghiện hay chỉ tính cai nghiện bắt buộc.

Bên cạnh đó, các văn bản hiện hành cũng chưa quy định cụ thể Công an cấp xã phải thu thập những tài liệu nào để chứng minh số lần cai nghiện.

Việc thiếu tiêu chí và tài liệu chứng minh thống nhất đang khiến một số Tòa án, Viện kiểm sát khu vực gặp khó khăn trong việc xác định chính xác số lần cai nghiện để quyết định thời hạn áp dụng.

Trong thời gian chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, tác giả đề xuất: nếu một người trước đó đã chấp hành xong một lần cai nghiện ma túy bắt buộc thì lần cai nghiện bắt buộc tiếp theo nên được xác định là lần thứ hai trở lên.

Chẳng hạn, một người đã cai nghiện ma túy bắt buộc và hoàn thành cai nghiện vào năm 2022, đến năm 2026 tiếp tục thuộc trường hợp phải đưa đi cai nghiện bắt buộc thì, theo quan điểm của tác giả, nên xác định đây là lần thứ hai và áp dụng thời hạn 36 tháng thay vì 24 tháng.

Lập luận được đưa ra là hiện chưa có quy định xác định việc hoàn thành cai nghiện trước đây hoặc hết thời gian quản lý sau cai nghiện sẽ làm “xóa” lần cai nghiện đã thực hiện. Cách xác định này vừa bảo đảm sự phân biệt về thời hạn tại khoản 1 Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, vừa phù hợp với mục đích cai nghiện là tạo đủ thời gian điều trị, phục hồi và phòng ngừa tái nghiện.

Từ đó, khi kiểm sát hồ sơ, Kiểm sát viên cần kiểm tra đầy đủ những tài liệu có thể chứng minh quá trình cai nghiện trước đây, như quyết định của Tòa án về việc đưa đi cai nghiện bắt buộc; tài liệu của cơ sở cai nghiện ma túy công lập về việc tiếp nhận, quá trình chấp hành, giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện và các tài liệu quản lý sau cai nghiện.

Việc chỉ căn cứ vào bản lý lịch tóm tắt hoặc lời trình bày của người nghiện về việc đã từng bị đưa đi cai nghiện trước đó, theo tác giả, chưa bảo đảm đầy đủ căn cứ để xác định số lần cai nghiện.

Từ những vướng mắc nêu trên, bài viết kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật theo hướng quy định rõ tiêu chí xác định số lần cai nghiện bắt buộc; làm rõ có tính thời gian cai nghiện tự nguyện vào số lần hay chỉ tính các lần cai nghiện bắt buộc.

Đồng thời, cần quy định cụ thể những tài liệu bắt buộc phải có để chứng minh số lần cai nghiện cũng như trách nhiệm của cơ quan lập hồ sơ trong việc thu thập, cung cấp các tài liệu này.

Việc có hướng dẫn thống nhất sẽ giúp Tòa án và Viện kiểm sát hạn chế cách hiểu khác nhau, bảo đảm việc xem xét, quyết định thời hạn đưa người nghiện ma túy đi cai nghiện bắt buộc có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Nguyễn Thị Ngân

Nguồn BVPL: https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/vuong-mac-ve-pham-vi-phat-bieu-cua-kiem-sat-vien-va-xac-dinh-so-lan-cai-nghien-ma-tuy-bat-buoc-208337.html