Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai - cách làm từ những địa phương tốp đầu
Gần 3,272 triệu thửa đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã được đưa vào cơ sở dữ liệu trên hệ thống thông tin đất đai quốc gia, trong đó, hơn 3,1 triệu thửa thuộc nhóm 1 - nhóm đảm bảo “đúng - đủ - sạch - sống” và đứng tốp 3 trong cả nước.
Phía sau những con số ấn tượng ấy là cách làm quyết liệt, linh hoạt, huy động cả hệ thống chính trị và đặc biệt là sự đồng hành của người dân. Đáng chú ý, nhiều địa phương đã có cách làm quyết liệt, sáng tạo, đứng tốp đầu toàn tỉnh.
Khi số hóa dữ liệu được đưa đến tận hộ dân
Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai không chỉ là câu chuyện của ngành chuyên môn. Tại những địa phương đang dẫn đầu về tiến độ, công việc này đã trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, được triển khai đến tận xóm, bản và từng hộ dân.
Ở xã Hợp Minh, việc thu thập, bổ sung, chỉnh sửa thông tin đất đai được thực hiện cả tại nhà văn hóa xóm vào ngày nghỉ, buổi tối, thậm chí tổ công tác trực tiếp đến từng hộ gia đình để hướng dẫn người dân hoàn thiện những thông tin còn thiếu.

Tổ công tác đã đến tận hộ để bổ sung các cơ sở dữ liệu đất đai còn thiếu. Ảnh: Mai Hương
Với ông Ngô Thanh Toàn, ở xóm Điện Yên, xã Hợp Minh, sự hỗ trợ trực tiếp này đặc biệt thiết thực. Có việc gia đình phải vào miền Nam đột xuất, khi trở về, ông được tổ công tác đến tận nhà hướng dẫn kê khai, bổ sung các thủ tục đất đai còn thiếu.
“Được tổ công tác đi đến tận hộ gia đình để hỗ trợ, giúp đỡ gia đình về việc kê khai các thủ tục đất đai” giúp việc giao dịch, quản lý đất đai sau này thuận tiện hơn", ông Toàn chia sẻ.
Đây cũng chính là cách xã Hợp Minh đang tháo gỡ một trong những khó khăn lớn nhất trong quá trình làm sạch dữ liệu: Thông tin nằm rải rác, hồ sơ chưa đầy đủ, người dân chưa có điều kiện trực tiếp đến cơ quan chuyên môn.

Ban Chỉ đạo và các tổ giúp việc của xã Hợp Minh họp triển khai, đôn đốc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn. Ảnh: CSCC
Xã Hợp Minh được hình thành trên cơ sở sáp nhập 5 xã cũ gồm: Sơn Thành, Bảo Thành, Vĩnh Thành, Long Thành và Viên Thành. Sau sáp nhập, địa bàn rộng, dân số lớn, số lượng thửa đất nhiều, đồng nghĩa với khối lượng dữ liệu cần rà soát, hoàn thiện rất lớn.
Toàn xã hiện có 50.626 thửa đất. Đến nay, khoảng 50.273 thửa đã cơ bản được làm sạch dữ liệu, tỷ lệ đạt 99,3%; số thửa nhóm 3 còn lại là 184 thửa. Đây là tỷ lệ thuộc nhóm dẫn đầu toàn tỉnh.

Các đồng chí chuyên viên UBND xã và các giáo viên xã Hợp Minh tập trung nhập dữ liệu đất đai. Ảnh: CSCC
Để có được kết quả này, xã không chỉ trông chờ vào lực lượng cán bộ chuyên môn. Trong những thời điểm cao điểm, xã Hợp Minh huy động tới 150 người tập trung tại UBND xã để thực hiện nhiệm vụ. Lực lượng tham gia gồm giáo viên trong thời gian nghỉ Hè, đoàn viên, thanh niên, cán bộ, công chức, viên chức; công việc được tổ chức cả ngoài giờ hành chính, thứ Bảy, Chủ nhật và buổi tối.

Thành viên tổ công tác của xã Hợp Minh thu thập thông tin tại nhà văn hóa xóm. Ảnh: CSCC
Ở cơ sở, Bí thư chi bộ, xóm trưởng, Trưởng ban Công tác Mặt trận và các chi hội cũng trực tiếp rà soát, hoàn thiện thông tin đất đai.
Theo ông Phạm Quang Sáng - Phó Chủ tịch UBND xã Hợp Minh, yếu tố quan trọng tạo nên kết quả là sự chỉ đạo quyết liệt của cấp trên, sự vào cuộc của Đảng ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Yên Thành và đặc biệt là sự tham gia của cả hệ thống chính trị.
Đáng chú ý, với 184 trường hợp dữ liệu nhóm 3 còn lại, xã đang phối hợp với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Yên Thành để rà soát, làm rõ và xử lý, phấn đấu hoàn thành vào giữa tháng 10/2026.
Môn Sơn: “Đi từng bản, đến từng hộ”
Nếu Hợp Minh cho thấy hiệu quả của việc huy động lực lượng lớn để tăng tốc thì xã Môn Sơn lại là minh chứng cho cách làm phù hợp với điều kiện địa bàn miền núi, biên giới.

Một góc của xã Môn Sơn nhìn từ trên cao. Ảnh: CSCC
Xã Môn Sơn có hơn 31.000 thửa đất, là một trong những xã miền núi có số lượng thửa đất lớn nhất tỉnh. Địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, trình độ tiếp cận công nghệ thông tin của người dân không đồng đều, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
Các tổ công tác được thành lập và trực tiếp xuống từng bản. Tại đây, lực lượng chuyên môn phối hợp với ban quản lý thôn, bản tuyên truyền, vận động, hướng dẫn cách làm và cùng người dân nhập dữ liệu.
Ở bản Xiềng, Bí thư Chi bộ Vi Thị Thùy cho biết, ngay khi được giao nhiệm vụ, bản tổ chức họp giao ban các đoàn thể, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng chi hội, từng cá nhân. Các tổ công nghệ số được huy động để hỗ trợ rà soát, cập nhật dữ liệu.
Cách làm được thực hiện theo phương châm gần dân: Rà soát từng nhà, từng hộ, tổ chức họp dân để tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của việc làm sạch dữ liệu đất đai.
Với những hộ dân tộc thiểu số, người cao tuổi, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin còn hạn chế, lực lượng đoàn viên, thanh niên, hội phụ nữ được huy động hỗ trợ. Công việc không chỉ diễn ra ban ngày mà còn được tranh thủ thực hiện vào buổi tối, ngày nghỉ. Đến nay, bản Xiềng gần như đã hoàn thiện việc cập nhật bìa đất và căn cước công dân chính chủ của các hộ dân.
Cách làm của xã Môn Sơn không dừng lại ở việc tuyên truyền. Xã xác định phải hướng dẫn thật cụ thể để người dân có thể tham gia vào quá trình hoàn thiện dữ liệu.

Các tổ công tác của xã Môn Sơn về tận các bản để thu thập thông tin dữ liệu đất đai. Ảnh: CSCC
Theo ông Vương Đình Huy - Phó Chủ tịch UBND xã Môn Sơn, để tăng cường nhân lực, xã huy động thêm giáo viên, đoàn viên, thanh niên có kỹ năng công nghệ thông tin. Trước khi xuống cơ sở, những người này được cán bộ chuyên môn hướng dẫn nghiệp vụ, nắm chắc quy trình để có thể trực tiếp hỗ trợ người dân theo cách “cầm tay chỉ việc”.
Với địa bàn miền núi, cách làm này càng có ý nghĩa khi khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông và khả năng tiếp cận công nghệ có thể trở thành rào cản đối với người dân.
Môn Sơn có 13 bản, trong đó, các bản Cò Phạt và Khe Búng là 2 bản đặc thù nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát.
Với 2 bản này, trước khi triển khai, xã đã mời Bí thư, Trưởng bản và Trưởng ban Công tác Mặt trận ra tại xã để quán triệt chủ trương, hướng dẫn nghiệp vụ. Sau đó, cán bộ bản về tuyên truyền, vận động để người dân hiểu lợi ích của việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.
Sau đó, lực lượng của xã trực tiếp vào bản. Ngoài cán bộ chuyên môn, xã huy động Đảng ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và lực lượng Biên phòng đóng trên địa bàn cùng tham gia tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân.
Từ những cách làm cụ thể đến kết quả toàn tỉnh

Xã Văn Kiều đã huy động cả hệ thống chính trị, trong đó, có các đoàn viên, thanh niên tăng tốc cập nhật dữ liệu đất đai. Ảnh: Mai Hương
Đến ngày 6/10, tổng số thửa đất có trong cơ sở dữ liệu trên hệ thống VBDLIS của Nghệ An đạt gần 3,272 triệu thửa,trong đó, hơn 3,1 triệu thửa thuộc nhóm 1- nhóm đảm bảo “đúng - đủ - sạch - sống”; còn hơn 162 nghìn thửa (nhóm 2) cần tiếp tục làm giàu, làm sạch, đối khớp, bổ sung thông tin. Tuy nhiên, toàn tỉnh vẫn còn hơn 570 nghìn thửa (nhóm 3) chưa xây dựng cơ sở dữ liệu.
Đáng chú ý, 6 địa phương đã đạt 100% số thửa đất được xây dựng cơ sở dữ liệu, gồm Châu Hồng, Lượng Minh, Châu Bình, Yên Na, Môn Sơn và Anh Sơn. Bên cạnh đó, có 5 xã đạt từ trên 99% đến gần 100%; 4 xã đạt từ trên 98% đến gần 99%.
Những con số này cho thấy tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại Nghệ An đang có sự chuyển biến rõ nét. Nhưng đằng sau kết quả không chỉ là việc tăng số lượng hồ sơ được nhập lên hệ thống, mà quan trọng hơn là cách các địa phương tổ chức thực hiện.
Từ xã Hợp Minh, có thể thấy hiệu quả của việc huy động đồng bộ các lực lượng, tổ chức làm việc linh hoạt cả ngoài giờ hành chính và trực tiếp đến từng hộ dân.
Từ xã Môn Sơn, có thể thấy với địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, yếu tố quyết định là bám cơ sở, chọn cách làm phù hợp, phát huy vai trò của thôn, bản và lực lượng có kỹ năng công nghệ thông tin.
Đặc biệt, cả 2 địa phương đều cho thấy một điểm chung: Khi cấp ủy, chính quyền quyết liệt vào cuộc và người dân hiểu rõ mục đích, lợi ích của việc hoàn thiện dữ liệu đất đai, nhiệm vụ này được vào cuộc, chung tay của cả hệ thống chính trị.
Từ những cách làm linh hoạt ở cơ sở, Nghệ An đang hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai “đúng - đủ - sạch - sống, thống nhất, dùng chung”, tạo nền tảng phục vụ tốt hơn công tác quản lý Nhà nước, đồng thời đem lại thuận lợi thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.

