Xây dựng nền văn hóa công vụ phụng sự trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, thực tiễn tại Bộ Công Thương

Trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số, xây dựng văn hóa công vụ phụng sự theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân. Từ thực tiễn tại Bộ Công Thương, bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đồng thời đề xuất giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, trách nhiệm, liêm chính, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách nền hành chính công, văn hóa công vụ không chỉ là yếu tố “mềm” mà đã trở thành thước đo quan trọng phản ánh chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Thấm nhuần lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những Lãnh tụ đã khẳng định bản chất “nhà nước đầy tớ”, “công bộc trung thành của nhân dân” thì việc xây dựng nền văn hóa công vụ phụng sự là yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với mọi cơ quan hành chính, đặc biệt là Bộ Công Thương, một bộ quản lý đa ngành, trọng yếu của nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các luận điệu xuyên tạc, chống phá trên lĩnh vực văn hóa công vụ, từ việc thổi phồng khuyết điểm cá biệt, đòi “phi chính trị hóa”, đến xuyên tạc bản chất dân chủ và cải cách hành chính của Nhà nước ta. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận của văn hóa công vụ phụng sự theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái; đồng thời đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa công vụ tại Bộ Công Thương. Qua đó, góp phần khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và xây dựng hình ảnh đội ngũ công chức ngành Công Thương “Kỷ cương - Hiện đại - Sáng tạo- Hội nhập - Hiệu quả”.

1. Hiểu về văn hóa công vụ theo Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1. Văn hóa công vụ theo Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

Tuy chưa trực tiếp định nghĩa về văn hóa công vụ và trong giai đoạn đầu tiến tới xây dựng xã hội mới, Mác - Lê Nin chưa đề cập nhiều tới văn hóa công vụ, nhưng có thể nhận thấy xuyên suốt trong lý luận của mình về một nhà nước mới, nhà nước của nhân dân, giai cấp lao động đó là nhà nước phụng sự. Theo Các Mác, bộ máy "đầy tớ" phải thay thế bộ máy "quan lại". Luận điểm về một nền hành chính phục vụ nhân dân được Các Mác đúc kết sâu sắc từ kinh nghiệm của Công xã Paris (1871). Vai trò của một "công bộc" ở đây không phải là một cá nhân cụ thể, mà là bản chất của cả một bộ máy chính trị mới: "Nhà nước đầy tớ" ngược lại với "Nhà nước chủ nhân". Trong tác phẩm "Nội chiến ở Pháp" (1871), Các Mác chỉ ra rằng bộ máy của giai cấp thống trị cũ là "nhà nước chủ nhân" (the master's state), dùng để áp chế xã hội. Công xã Paris đã tạo ra một nguyên mẫu nhà nước mới: biến nhà nước từ một thực thể đứng trên xã hội trở thành "đầy tớ trung thành của xã hội" (the servant of society).

Lê Nin phát triển và đấu tranh cho bộ máy "công bộc". Lê Nin kế thừa và phát triển triệt để tư tưởng của Các Mác, biến nó thành học thuyết về một Nhà nước kiểu mới. Thứ nhất, cần phải đập tan bộ máy quan liêu cũ. Trong tác phẩm "Nhà nước và Cách mạng" (1917), Lê Nin nhấn mạnh rằng cách mạng vô sản không thể chỉ "chiếm lấy" bộ máy nhà nước tư sản. Ông khẳng định lại luận điểm của Các Mác: "Giai cấp công nhân không thể đơn thuần chiếm lấy bộ máy nhà nước có sẵn và dùng nó cho mục đích của mình" mà phải đập tan bộ máy quan liêu chuyên chế cũ để xây dựng một hệ thống mới trong đó người dân tự quản. Thứ hai, phải xóa bỏ chủ nghĩa quan liêu, Lê Nin chỉ rõ rằng bệnh quan liêu là tệ nạn của nhà nước cũ, nơi các quan chức trở thành một tầng lớp đặc quyền. Ông lý giải việc xây dựng nhà nước kiểu mới thực chất là quá trình xóa bỏ đặc quyền, đưa mọi người lao động tham gia quản lý và kiểm soát, qua đó làm cho bộ máy nhà nước không còn là "chủ nhân" mà là "công bộc" của nhân dân.

1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa công vụ không được trình bày tập trung trong một tác phẩm duy nhất, mà được thể hiện xuyên suốt qua nhiều bài viết, bài nói quan trọng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Các tác phẩm nổi bật như:

Đường Kách mệnh (1927) đã đặt nền móng cho tư tưởng về đạo đức cách mạng, trong đó Người căn dặn người cách mạng phải "ít lòng ham muốn về vật chất", "không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình". Đời sống mới (1947) được xem là tác phẩm đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đề cập một cách hệ thống và toàn diện đến đức liêm, chính của cán bộ, công chức. Trong tác phẩm này, Người chỉ rõ: "những người trong công sở phải lấy chữ liêm làm đầu". Sửa đổi lối làm việc (1947), là tác phẩm kinh điển về cải cách hành chính, trong đó Người phê phán bệnh quan liêu, lối làm việc thiếu khoa học, thiếu trách nhiệm của cán bộ. Người chỉ rõ: "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy", "Cán bộ là gốc của mọi công việc". Cần, kiệm, liêm, chính (1949) luận giải sâu sắc về bốn đức tính cốt lõi của người cán bộ cách mạng. Người khẳng định: "Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông; Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc; Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính; thiếu một mùa, thì không thành Trời; thiếu một phương, thì không thành Đất; thiếu một đức, thì không thành Người". Đạo đức cách mạng (1955 và 1958), tác phẩm khẳng định vai trò nền tảng của đạo đức đối với người cán bộ. Người viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân". Người cán bộ cách mạng (1955), tác phẩm xác định rõ vai trò, trách nhiệm và phẩm chất cần có của người cán bộ trong thời kỳ mới. Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), đây là tác phẩm cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được coi như "di chúc tinh thần" về đạo đức cách mạng. Người nhấn mạnh: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân".

2. Một số nghiên cứu quốc tế và trong nước về văn hóa công vụ

Văn hóa công vụ nổi lên như một hướng nghiên cứu liên ngành quan trọng trong khoa học hành chính và quản lý công từ cuối thế kỷ XX. Các công trình nghiên cứu về văn hóa công vụ xuất phát từ nhu cầu lý giải yếu tố "mềm" nhưng có sức chi phối mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước - đó là các giá trị, chuẩn mực, niềm tin và hành vi của đội ngũ thực thi công vụ. Nếu các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh thể chế, quy trình, thủ tục (khía cạnh "cứng" của hành chính), thì sự xuất hiện của khái niệm văn hóa đánh dấu bước chuyển sang nghiên cứu chiều sâu văn hóa - yếu tố được xem như "linh hồn của tổ chức" và "thước đo phản ánh khách quan sự phát triển của nền hành chính".

John Gretton, Anthony Harrison (1989), nghiên cứu về các giá trị bền vững cho rằng, văn hóa công vụ là "tập hợp những giá trị của một nền công vụ, hiện hữu và bền vững trong hoạt động công vụ". Kenneth Kernaghan (1994) lại xem xét văn hóa công vụ theo các khía cạnh giá trị và đạo đức, ông cho rằng "các giá trị, chuẩn mực đạo đức, định hướng, tầm nhìn của nền công vụ". Edgar H. Schein (2004), nghiên cứu về văn hóa tổ chức, theo ông, "các giá trị, niềm tin và những định ước trong tổ chức được chia sẻ, thấm sâu thành truyền thống và chi phối hành vi thành viên"; Tác phẩm " Văn hóa tổ chức và lãnh đạo - Organizational Culture and Leadership" (2004) của Edgar H. Schein đề xuất mô hình văn hóa với ba cấp độ khác nhau gồm: i) Cấp độ 1 (hữu hình): các dạng vật chất chuyển tải văn hóa như quy định về trang phục, phát ngôn về triết lý tổ chức, không gian làm việc; ii) Cấp độ 2 (giá trị công khai): các giá trị, chiến lược, mục tiêu mà tổ chức công bố và hướng tới; iii) Cấp độ 3 (giá trị mặc định, thấm sâu): niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm vô thức của thành viên, chi phối hành vi một cách tự nhiên nhất.

Một điểm đáng chú ý trong các nghiên cứu gần đây là nỗ lực phân biệt văn hóa công vụ với đạo đức công vụ, đây là hai khái niệm thường bị nhầm lẫn. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ do TS. Chu Thị Khánh Ly làm chủ nhiệm (2024) đã chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều điểm chung, văn hóa và đạo đức công vụ không phải là một. Văn hóa có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả các yếu tố vật thể, biểu tượng, quy trình, trong khi đạo đức công vụ tập trung vào các chuẩn mực ứng xử mang tính luân lý.

Tổng hợp từ các nghiên cứu thực nghiệm, văn hóa công vụ có thể được cấu thành từ bốn nhóm nội dung chính: thứ nhất, tinh thần, thái độ làm việc: thể hiện ở sự trung thành, tận tụy phục vụ nhân dân, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, không đùn đẩy, không kéo dài thời gian xử lý công việc; thứ hai, chuẩn mực giao tiếp, ứng xử: với nhân dân, cần tôn trọng, lắng nghe, hướng dẫn tận tình, thực hiện phương châm "4 xin, 4 luôn" (xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép; luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ). Với đồng nghiệp, cần hợp tác, tương trợ, không bè phái. Với cấp trên/cấp dưới, phải tuân thủ thứ bậc hành chính nhưng cũng tôn trọng ý kiến của cấp dưới; thứ ba, đạo đức, lối sống: đề cao các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; sống trung thực, giản dị; tránh xa tệ nạn xã hội; tuân thủ kỷ luật phát ngôn, đặc biệt trên không gian mạng; thứ tư, trang phục: Phải phù hợp với tính chất công việc, đặc thù ngành, thuần phong mỹ tục; gọn gàng, lịch sự.

Nghiên cứu về các giá trị cốt lõi của văn hóa công vụ, so sánh về đạo đức công vụ của các nước cho thấy sự thống nhất tương đối về các giá trị cốt lõi, cụ thể như: Vương quốc Anh đề cao tính trung thực, liêm chính, khách quan, không liên kết, không bè phái. Tại Singapore, văn hóa công vụ được thể hiện qua năng lực, sáng tạo, hướng tới tương lai. Nguyên tắc trong văn hóa công vụ của Nhật Bản là trung thành và liêm chính - hai nguyên tắc nền tảng chi phối hành xử của công chức. Với Ấn Độ, văn hóa công vụ là toàn vẹn, công bằng, khách quan, cống hiến cho dịch vụ công, đồng cảm với người yếu thế.

Trong bối cảnh Việt Nam, văn hóa công vụ đang hướng tới bộ giá trị được xác định trong Đề án Văn hóa công vụ được phê duyệt ại Quyết định 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 gồm: "Chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, năng động và hiệu quả". Các nghiên cứu trên Tạp chí Cộng sản và Tạp chí Quản lý nhà nước đã phân tích sâu từng giá trị này, cụ thể là: tính chuyên nghiệp thể hiện qua năng lực, tác phong, phong cách chuẩn mực; đào tạo đúng chuyên ngành, có kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp. Trách nhiệm là tự giác thực hiện bổn phận, nghĩa vụ với nhân dân và xã hội; chịu trách nhiệm pháp lý, kỷ luật. Tính trung thực và khách quan thể hiện trong quy định, cách thức và kết quả thực thi công vụ. Minh bạch, mọi hoạt động rõ ràng, tường minh, công khai; thực hiện giải trình, công khai tài sản, thông tin. Giá trị phục vụ: mục tiêu cao nhất là phục vụ tốt nhất cho người dân; bảo đảm mối quan hệ thực chất giữa chính quyền và nhân dân.

3. Luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với văn hóa công vụ của Việt Nam hiện nay

Trong chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch đặc biệt chú trọng khai thác lĩnh vực văn hóa công vụ - một chủ đề nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính. Dưới đây là hệ thống các luận điệu chính mà chúng thường sử dụng.

3.1. Xoáy sâu vào khuyết điểm, quy chụp cá biệt thành bản chất

Luận điệu này được các thế lực thù địch sử dụng phổ biến nhất. Chúng triệt để khai thác những hạn chế, bất cập trong thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức để quy chụp cho toàn bộ hệ thống chính trị. Các hoạt động này thường quy kết với các nội dung như:

Nhằm kết luận rằng Việt Nam có "nền hành chính tham nhũng, kém hiệu quả", chúng thường cắt ghép, thổi phồng các biểu hiện, hình ảnh công trình dở dang, thủ tục hành chính rườm rà, thái độ nhũng nhiễu của một số cán bộ để gán cho toàn bộ nền công vụ.

Để gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, các thế lực thù địch thường suy diễn từ cái cá biệt, biến những vi phạm của một số cán bộ, đảng viên thành "bản chất thoái hóa của cả hệ thống".

Luôn phủ nhận toàn bộ nỗ lực cải cách hành chính, chúng khai thác vụ việc cụ thể, mỗi khi có dự án chậm tiến độ, vụ việc giải quyết kéo dài, chúng lập tức thổi phồng và gắn với luận điệu "thiếu minh bạch", "thiếu trách nhiệm"

Thực chất, thủ đoạn này nhằm đánh tráo bản chất: lấy cái cá biệt, nhất thời để quy kết cái tổng thể, phổ quát, qua đó làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước.

3.2. Phi chính trị hóa" văn hóa công vụ - phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

Luận điệu này ẩn chứa mưu đồ sâu xa: tách văn hóa công vụ khỏi nền tảng tư tưởng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó làm suy yếu vai trò chủ đạo của văn hóa xã hội chủ nghĩa, tiến tới xóa bỏ định hướng chính trị trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Các biểu hiện như:

Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa nói chung và văn hóa công vụ nói riêng. Văn hóa phải tách khỏi chính trị, "Văn hóa là kiến trúc thượng tầng tồn tại độc lập với chính trị", "Văn hóa chỉ là hoạt động nghệ thuật, giải trí thuần túy, không cần định hướng chính trị"

Coi đó là "khẩu hiệu chính trị", định hướng lệch lạc để giảm niềm tin. Xuyên tạc các nghị quyết về văn hóa, chúng còn cho rằng Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam là sự "chính trị chi phối văn hóa", "hạn chế tự do sáng tạo".

3.3. Xuyên tạc bản chất dân chủ của nền hành chính

Các thế lực thù địch đặc biệt lợi dụng khái niệm "dân chủ" để công kích nền công vụ Việt Nam. Về bản chất, các thế lực này cố tình áp đặt những tiêu chuẩn dân chủ phiến diện, tách rời điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị của Việt Nam. Các biểu hiện cụ thể là:

Đánh tráo khái niệm dân chủ, phớt lờ thực tế Hiến pháp 2013 của nước ta quy định đầy đủ các quyền công dân, và cơ chế dân chủ cơ sở đang vận hành. Văn hóa và hệ thống chính trị Việt Nam vô hiệu hóa dân chủ. Gán ghép văn hóa Việt Nam là "văn hóa phục tùng", "tâm lý cam chịu", "không có tinh thần phản biện"

Cố tình bóp méo phẩm chất cao quý của con người Việt Nam. Hạ thấp lòng yêu nước, Xuyên tạc lòng yêu nước thành "chủ nghĩa dân tộc cực đoan".

Áp đặt mô hình phương Tây, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - nền dân chủ lấy nhân dân làm trung tâm. Đánh đồng dân chủ với đa nguyên, đa đảng. Cho rằng "không đa đảng thì không có dân chủ thực chất"

3.4. Chống phá chủ trương cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy

Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp tinh gọn bộ máy, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá trên lĩnh vực này. Đặc biệt, chúng lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin sai lệch, sử dụng cả trí tuệ nhân tạo (AI) để dàn dựng, cắt ghép nội dung giả mạo nhằm gây nhiễu loạn thông tin và tác động tiêu cực đến nhận thức xã hội về công cuộc cải cách hành chính. Các luận điệu chủ yếu gồm:

Đánh tráo bản chất: đây là chủ trương nhấn mạnh hiệu quả thực chất gắn với trách nhiệm giải trình. Chúng cho đây là "giảm minh bạch", "né tránh trách nhiệm", "hạn chế quyền phát biểu, quyền phản biện".

Lợi dụng khó khăn bước đầu trong quá trình cải cách. Chúng xuyên tạc là "cắt giảm nhân sự tùy tiện", "gây bất ổn cho đội ngũ công chức".

Phủ nhận những kết quả trong phòng, chống tham nhũng và tăng cường giám sát. Các thế lực thù địch luôn rêu rao cho rằng "Việt Nam không có cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất".

4. Thực trạng văn hóa công vụ ngành Công Thương

4.1. Các kết quả đạt được trong thực thi văn hóa công vụ ngành Công Thương

Ngành Công Thương luôn có một vị trí đặc biệt, vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, quản lý bao trùm nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, hội nhập quốc tế và chăm lo đời sống của nhân dân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, ngành Công Thương luôn là một ngành kinh tế quan trọng, tạo ra của cải vật chất, cung cấp cho nhu cầu xã hội. Với những đóng góp vô cùng to lớn, các Bộ tiền nhiệm của Bộ Công Thương là Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng; Bộ Công Thương được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh; các ngành Dầu khí, Điện, Than, Dệt may được đón nhận Huân chương Sao vàng; nhiều tập thể, cá nhân trong ngành Công Thương là Anh hùng Lao động và đón nhận các danh hiệu cao quý khác của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện Đề án văn hóa công vụ được ban hành theo Quyết định củaThủ số 1847/QĐ-TTg với mục tiêu: "nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, xã hội." Năm 2023, Bộ Công Thương có Quyết định số 1239/QĐ-BCT ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Bộ Công Thương. Trong giai đoạn vừa qua, Bộ Công Thương rất coi trọng việc tuyên truyền, phổ biển, triển khai Quy chế làm việc, Quy tắc ứng xử, bước đầu đã có những thay đổi về tư duy, nhận thức và hành động của đội ngũ CCVC, từng bước củng cố nền tảng văn hóa công vụ của Bộ. Một số kết quả đáng ghi nhận như: i) ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ, Bộ đã từng dẫn đầu trong số các bộ, ngành về xây dựng Chính phủ điện tử; triển khai hiệu quả Cổng Dịch vụ công trực tuyến, Hệ thống thông tin một cửa quốc gia... tạo sự minh bạch, thuận tiện; ii) công tác cải cách hành chính của Bộ khá sâu rộng, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết công việc cho doanh nghiệp và người dân; iii) môi trường làm việc của Bộ được chỉnh trang chuyên nghiệp, hiện đại hơn, cán bộ, công chức làm việc tại cơ quan Bộ đã chú trọng trang phục, tác phong, giao tiếp; trụ sở làm việc được cải tạo khá khang trang, hiện đại; iv) bước đầu khối làm việc tại cơ quan Bộ đã xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, khuyến khích các sáng kiến, đề xuất cải tiến quy trình nghiệp vụ.

4.2. Một số tồn tại, hạn chế trong văn hóa công vụ ngành Công Thương

Mặc dù, về chủ trương, chính sách và các văn bản chỉ đạo thực hiện văn hóa công vụ đã khá đầy đủ, toàn diện nhưng cũng phải thẳng thắn thừa nhận việc tổ chức thực hành văn hóa công sở, văn minh công vụ trong khối các cơ quan hành chính trong đó có Bộ Công Thương còn chưa thực sự đi vào thực chất, hiệu quả. Ngành Công Thương, cơ quan Bộ Công Thương chưa xây dựng được bản sắc văn hóa mạnh mẽ, truyền cảm hứng, tác động tích cực lên tinh thần làm việc, trách nhiệm công vụ cho cán bộ của mình. Một số biểu hiện chưa tốt như: i) trang phục, tác phong, lề lối làm việc còn chưa thống nhất, gọn gàng, một số công chức còn có thái độ chưa khiêm tốn, lễ phép, sắp xếp công việc chưa khoa học, hiệu quả, rời vị trí công tác không có lý do chính đáng; ii) về đạo đức, lối sống, tinh thần và thái độ làm việc: một số cán bộ, công chức chưa thực sự tâm huyết với công việc, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm không cao; còn có hiểu hiện cửa quyền hoặc thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, vướng mắc của tổ chức, cá nhân; iii) về ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo: còn đơn vị chưa xây dựng được môi trường làm việc chuyên nghiệp, giữ gìn sự đoàn kết, đạo đức, văn hóa của đơn vị chưa tốt, tại một số đơn vị còn có cá nhân chưa chấp hành tốt sự phân công của cấp trên, chưa chủ động nghiên cứu, tham mưu lĩnh vực chuyên môn được phân công, thái độ hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm chưa tốt.

Ngoài những tồn tại, hạn chế nêu trên, trong thời gian qua, một số cán bộ, công chức của Bộ Công Thương vi phạm các quy định của pháp luật, bị cơ quan chức năng xử lý hành chính, thậm chí bị xử lý trách nhiệm hình sự. Các biểu hiện nói trên có ảnh hưởng rất tiêu cực đến chất lượng xử lý công việc, tới tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của toàn ngành Công Thương.

4.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Các tồn tại, hạn chế trong văn hóa công vụ ngành Công Thương nêu trên có thể chỉ là các hiện tượng cá biệt, nhưng có ảnh hưởng tới toàn hệ thống. Những hạn chế này có thể xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Cụ thể như: i) thói quen xử lý công việc thông qua cơ chế "xin - cho", cửa quyền vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, công chức đặc biệt khi giải quyết các thủ tục liên quan đến doanh nghiệp, thiếu linh hoạt, cứng nhắc trong áp dụng quy định; ii) bệnh hình thức, thành tích: một số nơi còn nặng về báo cáo, hội họp, thiếu hiệu quả thực chất; ngại đối mặt với sự thật, với khuyết điểm; iii) vẫn còn tình trạng "trên nóng, dưới lạnh" hoặc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị thuộc Bộ và giữa cơ quan Bộ với cơ sở.

Về khách quan: i) áp lực công việc lớn nhưng cơ chế động viên, khích lệ chưa tương xứng, khối lượng công việc lớn, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi trách nhiệm cá nhân cao, nhưng cơ chế đãi ngộ, khen thưởng đôi khi còn cứng nhắc, chậm đổi mới; ii) áp lực từ dư luận xã hội về các vấn đề nhạy cảm (giá xăng dầu, điện, an toàn thực phẩm...) đôi khi tạo tâm lý e dè, ngại quyết định; iii) văn hóa phản biện và minh bạch chưa thực sự mạnh mẽ: môi trường làm việc đôi khi thiếu sự cởi mở để tranh luận, phản biện các ý tưởng, chính sách một cách thẳng thắn, xây dựng. Việc tiếp cận một số thông tin nội bộ hoặc quy trình ra quyết định đôi khi chưa thực sự minh bạch với toàn thể cán bộ.

Nguyên nhân sâu xa của các tồn tại, hạn chế có thể do đạo đức công vụ và ý thức phục vụ ở một số cá nhân còn hạn chế: vẫn còn hiện tượng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân; thái độ thờ ơ, vô cảm, thiếu nhiệt tình trong giải quyết công việc, chưa đặt mình vào vị trí người được phục vụ, chưa xác lập văn hóa "coi mình là nguyên nhân" trong mọi công việc; nền tảng văn hóa liêm chính chưa được củng cố vững chắc, còn có lãnh đạo đơn vị chưa thực sự nêu gương, chưa thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, lắng nghe ý kiến của cấp dưới, chưa phân công, phân nhiệm rõ ràng, chưa công tâm, khách quan trong đánh giá, sử dụng cán bộ.

5. Nội dung và tiêu chí đánh giá văn hóa công vụ ngành Công Thương

Từ lý luận về nội dung và các tiêu chí đánh giá văn hóa công vụ, nhằm phản bác mạnh mẽ luận điệu của các thế lực thù địch về văn hóa công vụ của Việt Nam nói chung trong đó có văn hóa công vụ ngành Công Thương, trên cơ sở xác định rõ thực trạng qua phân tích kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của tồn tại hạn chế trong xây dựng văn hóa công vụ ngành Công Thương, trong thời gian qua, Bộ Công Thương thông qua các văn bản chỉ đạo cụ thể, qua thực tiễn lãnh đạo của Bộ, đã xác định được các nội dung và tiêu chí đánh giá văn hóa công vụ cụ thể như sau:

5.1. Chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính

Nội dung đánh giá: phải có ý thức tổ chức kỷ luật; sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc; tránh hiện tượng trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức; chủ động phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Tiêu chí đánh giá: Tác phong, giờ giấc: chấp hành nghiêm nội quy, quy chế cơ quan; Thực thi chức trách: tuân thủ pháp luật về công nghiệp, thương mại; không né tránh trách nhiệm; đạo đức công vụ: thực hành "cần, kiệm, liêm, chính"; kiên quyết phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

5.2. Chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc

Nội dung đánh giá: giải quyết công việc được giao đúng hạn, đúng quy trình, tạo ra giá trị gia tăng trong mỗi công việc được giao hướng tới sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp

Tiêu chí đánh giá: tính chuyên nghiệp: thành thạo chuyên môn, xử lý công việc đúng quy trình, không gây phiền hà; tiến độ và kết quả: tỷ lệ giải quyết TTHC đúng hạn, chất lượng văn bản tham mưu, báo cáo; tư duy phục vụ: hướng tới người dân và doanh nghiệp; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo.

5.3. Tinh thần, thái độ làm việc

Nội dung đánh giá: cán bộ, công chức, viên chức phải trung thành với Nhà nước bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tôn trọng và tận tụy phục vụ Nhân dân. Khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ý thức rõ về chức trách, bổn phận của bản thân như là: i) phải sẵn sàng nhận và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công; không kén chọn vị trí công tác; ii) không được gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh, kéo dài thời gian xử lý công việc của cơ quan, tổ chức và người dân; không thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc của người dân.

Tiêu chí đánh giá: chủ động tham mưu: mạnh dạn đề xuất sáng kiến cải cách TTHC, cắt giảm điều kiện kinh doanh; thích ứng chuyển đổi số: sử dụng thành thạo công cụ số (các phần mềm làm việc, hệ thống quản lý, xử lý văn bản); năng động, sáng tạo: dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; xử lý linh hoạt vướng mắc về chính sách xuất nhập khẩu, thị trường.

5.4. Văn hóa giao tiếp, ứng xử ở công sở

Nội dung đánh giá: trong giao tiếp với người dân, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng, lắng nghe, tận tình hướng dẫn về quy trình xử lý công việc và giải thích cặn kẽ những thắc mắc của người dân; đối với đồng nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức phải có tinh thần hợp tác, tương trợ trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; không bè phái gây mất đoàn kết nội bộ của cơ quan, tổ chức; đối với lãnh đạo cấp trên, cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ thứ bậc hành chính, phục tùng sự chỉ đạo, điều hành, phân công công việc của cấp trên; không trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ; không nịnh bợ lấy lòng vì động cơ không trong sáng; cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý không được duy ý chí, áp đặt, bảo thủ; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cấp dưới; gương mẫu trong giao tiếp, ứng xử.

Tiêu chí đánh giá: với người dân/doanh nghiệp: tận tình hướng dẫn; lịch sự, nhã nhặn, không hách dịch; với đồng nghiệp/lãnh đạo: đoàn kết, tương trợ; trung thực, khách quan; chuẩn mực phát ngôn: giữ bí mật nhà nước; phát ngôn chuẩn mực trên mạng xã hội.

5.5. Đạo đức, lối sống và hình ảnh người Công Thương

Nội dung đánh giá: cán bộ, công chức, viên chức phải không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống; không liên quan tới các tệ nạn xã hội; không được sử dụng đồ uống có cồn trong thời gian làm việc và giờ nghỉ trưa; hút thuốc lá đúng nơi quy định; phải tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ. cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội, thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; không mê tín dị đoan và có những hành vi phản cảm khi tham gia lễ hội; khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự, trang phục phải phù hợp với tính chất công việc, đặc thù trang phục của ngành và thuần phong, mỹ tục của dân tộc; đối với những ngành có trang phục riêng thì phải thực hiện theo quy định của ngành.

Tiêu chí đánh giá: giữ gìn hình ảnh: trang phục lịch sự, đeo thẻ công chức, sử dụng hiệu quả giờ làm việc; lối sống lành mạnh: gương mẫu nơi cư trú; xây dựng gia đình văn hóa.

6. Đề xuất các giải pháp tiếp tục xây dựng văn hóa công vụ ngành Công Thương

6.1. Bối cảnh, yêu cầu

Trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới tăng trưởng dựa trên sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước nhấn mạnh vai trò của Nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Ngành Công Thương quản lý nhiều lĩnh vực then chốt như công nghiệp, năng lượng, thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế; do đó đạo đức công vụ, phong cách ứng xử, hình ảnh của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (sau đây viết tắt là CCVC) ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả công tác của Bộ Công Thương và ngành Công Thương, tác động đến môi trường kinh doanh và hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp.

Hiện nay, tư duy quản lý của bộ máy hành chính cần thiết phải chuyển từ “mệnh lệnh - kiểm soát” sang “kiến tạo - đồng hành”, từ quản lý sang quản trị. Để thay đổi tư duy này cần xác lập rõ các chuẩn mực văn hóa công vụ, tạo động lực cho CCVC tận tâm phục vụ, hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, giảm chi phí tuân thủ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bộ Công Thương phải là đơn vị tiên phong, xây dựng Đề án phát triển văn hóa công vụ nhằm làm rõ cơ chế và giải pháp để chuyển hóa tư duy đó thành hành động cụ thể trong toàn ngành.

Về yêu cầu thực tiễn đặt ra và trong bối cảnh mới, kỷ nguyên vươn mình của Dân tôc, Đảng, Nhà nước và Bộ Công Thương cũng có chủ trương, chỉ đạo cụ thể liên quan đến phát triển văn hóa nói chung, trong đó có văn hóa công vụ như:

Nghị quyết 80‑NQ/TW ngày 07 tháng 1 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam có nêu nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới với các giá trị trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hiện đại; văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà phải là nền tảng vững chắc của sự phát triển đất nước, văn hóa phải thấm sâu vào mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển;

Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án văn hóa công vụ của Chính phủ; trong đó yêu cầu hình thành phong cách ứng xử và lề lối làm việc chuẩn mực, nâng cao đạo đức công vụ, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả;

Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 quy định chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của CCVC trong công sở và khi giải quyết công việc với Nhân dân; nhấn mạnh tinh thần phục vụ, minh bạch. Luật Viên chức số 129/2025/QH15 cũng quy định viên chức có nghĩa vụ: tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức;

Nghị định số 335/2025/NĐ-CP của Chính phủ có quy định Đổi mới công tác đánh giá, xếp loại CCVC; đưa phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật và việc thực hiện văn hóa công vụ thành tiêu chí đánh giá;

Quyết định số 1239/QĐ-BCT ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Bộ Công Thương Ban hành Quy tắc ứng xử của CCVC Bộ Công Thương; quy định các chuẩn mực về hành vi, giao tiếp, tinh thần trách nhiệm và nêu gương trong thực thi công vụ.

Quyết định số 103/QĐ-BCT ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Công Thương thành lập Ban Chỉ đạo phát triển văn hóa công vụ ngành Công Thương; trong đó giao nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng và triển khai đề án văn hóa công vụ, lồng ghép với cải cách hành chính và chuyển đổi số; Quyết định số 322/QĐ-BCT ngày 13 tháng 02 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quy chế làm việc của Bộ Công Thương.

6.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển văn hóa công vụ ngành Công Thương

Quan điểm

Thứ nhất, cần nâng tầm văn hóa công vụ ngành Công Thương góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả, vì lợi ích của doanh nghiệp và phục vụ người dân tốt hơn.

Thứ hai, tiếp tục kế thừa, phát huy các giá trị cốt lõi, bản sắc văn hóa ngành Công Thương nghĩa tình, kết nối đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thứ ba, nỗ lực chuẩn hóa đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, đạo đức nghề nghiệp của viên chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thứ tư, nhất thiết phải đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện văn hóa công vụ.

Thứ năm, thống nhất nhận thức rằng phát triển văn hóa công vụ, lan tỏa mạnh mẽ hình ảnh cán bộ, công chức, người lao động ngành công thương hiện đại, sáng tạo, hội nhập quốc tế.

Mục tiêu

Một là, xây dựng chuẩn mực hóa công vụ ngành Công Thương: hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, xã hội; chuyển đổi văn hóa công vụ: chuẩn hóa nhận thức và hành vi theo hướng phục vụ, hỗ trợ phát triển; thay thế tư duy “mệnh lệnh - kiểm soát” bằng “kiến tạo - đồng hành”; từ quản lý sang quản trị.

Hai là, nâng tầm nhận thức và hành vi văn hóa công vụ: theo hướng phục vụ, thay đổi tư duy từ “quản lý - cấp phép” sang “kiến tạo - đồng hành”. Nâng cao trách nhiệm và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CCVC thông qua các hành vi cụ thể, rõ ràng và có thể quan sát, đánh giá. Đồng thời tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trách nhiệm và tính chuyên nghiệp. Gắn văn hóa công vụ với cải cách hành chính và chuyển đổi số: lồng ghép chuẩn mực ứng xử với cải cách thủ tục hành chính, chính phủ số; tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Ba là, đẩy mạnh truyền thông về văn hóa công vụ: tăng cường công tác truyền thông về văn hóa công vụ cả bên trong hệ thống tổ chức và cả với bên ngoài. Xây dựng hình ảnh đội ngũ CCVC ngành Công Thương "Kỷ cương - Hiện đại - Sáng tạo - Hội nhập - Hiệu quả", đồng thời khuyến khích hợp tác, đổi mới và môi trường làm việc minh bạch, văn minh.

Bốn là, Phát triển nền văn hóa công vụ ngành Công Thương: theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và kiến tạo, đặt người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong hành vi thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Công Thương, đặc biệt tại các vị trí quản lý và các vị trí tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp; qua đó từng bước hình thành bản sắc riêng văn hóa công vụ của ngành Công Thương theo định hướng kiến tạo - đồng hành - phục vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ xã hội. Xây dựng môi trường làm việc văn minh: mọi cơ quan trong ngành đều có môi trường kỷ cương, khoa học, minh bạch, tôn trọng đồng nghiệp và khuyến khích sáng tạo.

6.3. Đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa công vụ ngành Công Thương

Nhằm tiếp tục xây dựng văn hóa công vụ ngành công thương hướng tới một nền hành chính hiện đại, phụng sự theo nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết và mạnh mẽ phản bác mọi luận điệu xuyên tác, chống phá của các thế lực thù địch đang nhằm vào ngành công vụ của Việt Nam và theo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian tới, Bộ Công Thương hướng tới thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Nhóm giải pháp nhằm thay đổi nhận thức đối với văn hóa công vụ

Thứ nhất, khảo sát thực trạng văn hóa công vụ ngành Công Thương để nhận định rõ giá trị cốt lõi, bản sắc, phát huy các kết quả đạt được, khắc phục và có các giải pháp đối với các tồn tại, hạn chế trong thực hành văn hóa công vụ.

Thứ hai, tuyên truyền, phổ biến các nội dung của văn hóa công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức thông qua hội nghị chuyên đề, tọa đàm nhằm nâng cao nhận thức về tinh thần, thái độ làm việc, các chuẩn mực giao tiếp, ứng xử, đạo đức lối sống, góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức triển khai thực hiện.

Thứ ba, khẩn trương biên soạn tài liệu bồi dưỡng về văn hóa công vụ và tổ chức bồi dưỡng về văn hóa công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Công Thương.

Thứ tư, xây dựng bộ nhận diện của Bộ Công Thương gồm logo, mockup, slogan và phổ biến sử dụng đồng bộ trong các đơn vị thuộc Bộ.

Thứ năm, tập trung đào tạo kỹ năng mềm: định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng về kỹ năng giao tiếp hành chính, đạo đức công vụ, và văn hóa ứng xử cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách

Một là, tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi các quy định, nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức nhằm tạo cơ sở pháp lý ngăn ngừa một cách căn cơ bài bản những vi phạm về văn hóa công vụ.

Hai là, triển khai đồng bộ tiêu chuẩn văn hóa công vụ ngành Công Thương trong tất cả các đơn vị.

Ba là, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ của các đơn vị hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm hội họp, giấy tờ hành chính và chế độ báo cáo, số hóa các hoạt động hành chính.

Bốn là, cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp; niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính tại trụ sở nhằm làm cho hoạt động của cơ quan, tổ chức được minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.

Năm là, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hành văn hóa công vụ ngành Công Thương. Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm quy định về văn hóa công vụ tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu hình thức kỷ luật theo quy định của pháp luật; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, biểu hiện nhũng nhiễu phiền hà trong giải quyết công việc đối với người dân và doanh nghiệp; xử lý nghiêm việc chậm trễ trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Sáu là, kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, công chức, viên chức có thành tích, gương mẫu trong thực hiện văn hóa công vụ.

Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở vật chất, môi trường làm việc

Một là, xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp: cải thiện không gian công sở xanh, sạch, đẹp; bổ sung hợp lý không gian văn hóa; bố trí khu vực tiếp dân khang trang, lịch sự, đảm bảo tính công khai, minh bạch.

Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số: hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, ứng dụng triệt để các phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc và cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, góp phần giảm thiểu tiêu cực, phiền hà trong giao dịch hành chính.

Lời kết

Xây dựng nền văn hóa công vụ phụng sự theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ chính trị - văn hóa trọng yếu mà còn là giải pháp nền tảng để nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân và phản bác có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, thù địch.

Qua nghiên cứu và phân tích thực trạng tại Bộ Công Thương cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được như ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, bước đầu hình thành phong cách làm việc chuyên nghiệp, thì vẫn còn những hạn chế nhất định trong thực hành văn hóa công vụ, như thái độ làm việc thiếu tâm huyết, vi phạm chuẩn mực giao tiếp, thậm chí có trường hợp bị xử lý kỷ luật. Nguyên nhân sâu xa chính là sự suy giảm đạo đức công vụ, ý thức phục vụ và vai trò nêu gương của một bộ phận cán bộ, công chức.

Để khắc phục những tồn tại đó, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp: thay đổi nhận thức về văn hóa công vụ thông qua tuyên truyền, đào tạo, xây dựng bộ nhận diện ngành; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường thanh tra, xử lý vi phạm và khen thưởng kịp thời; cải thiện cơ sở vật chất, môi trường làm việc gắn với chuyển đổi số. Đặc biệt, phải coi trọng vai trò người đứng đầu và đề cao các giá trị “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng căn dặn.

Tựu chung lại, xây dựng văn hóa công vụ phụng sự là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị. Bộ Công Thương cần đi đầu trong việc tạo lập bản sắc văn hóa công vụ riêng, lấy “kiến tạo - đồng hành - phục vụ” làm kim chỉ nam, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả, góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch và hiệu quả trong thời kỳ mới.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh (1975), Về vấn đề cán bộ, NXB Sự thật, Hà Nội

2. Hồ Chí Minh (1995), Sửa đổi lối làm việc, NXB Sự thật, Hà Nội

3. Học viện Hành chính Quốc gia (2012). Giáo trình Đạo đức công vụ. NXB KH&KT, Hà Nội

4. Học viện Hành chính Quốc gia (2007). Giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước. NXB KH&KT, Hà Nội

5. Chu Thị Khánh Ly. Văn hóa công vụ của cơ quan hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tạp chí Quản lý nhà nước: https://doi.org/10.59394/qlnn.337.2024.764, số 337

6. Đặng Xuân Hoan, Nguyễn Thị Thu Vân. Tài liệu bồi dưỡng văn hóa công vụ. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2020

7. Huỳnh Văn Thới (chủ biên) (2016), Văn hóa công vụ ở Việt Nam-lý luận và thực tiễn, NXB. Lý luận chính trị, Hà Nội.

8. John Gretton, Anthony Harrison (1989). Reshaping central. Transaction Publishers

9. Kenneth Kernaghan (1994), The emerging public service culture: values, ethics and reforms, Canadian Public Administration, Volume 37, Issue 4, pages 614 - 630

10. Schein EH, (2004). Organisational culture and leadership (3rd ed), San Francisco: Jossey-Bass

11. Nghị quyết 80‑NQ/TW ngày 07 tháng 1 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

12. Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ.

13. Quyết định số 1239/QĐ-BCT ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Bộ Công Thương Ban hành Quy tắc ứng xử của CCVC Bộ Công Thương

14. Quyết định số 322/QĐ-BCT ngày 13 tháng 02 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quy chế làm việc của Bộ Công Thương

15. Tài liệu Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay

Lê Hồng Quang

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/xay-dung-nen-van-hoa-cong-vu-phung-su-tren-nen-tang-chu-nghia-mac-le-nin--tu-tuong-ho-chi-minh-nham-phan-bac-cac-luan-dieu-xuyen-tac--chong-pha-cua-cac-the-luc-thu-dich--thuc-tien-tai-bo-cong-thuong-528230.htm