Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cho Tổng khởi nghĩa

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nổi bật là Đảng ta đã đề ra chủ trương xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng đúng đắn, nhất là lực lượng vũ trang (LLVT), tạo thành sức mạnh to lớn, đưa Tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Ngoài việc tập trung xây dựng lực lượng chính trị-nhân tố quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, phát triển LLVT, tổ chức rèn luyện trong thực tiễn cách mạng, từng bước chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Ngay từ khi ra đời, trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Đảng đề ra một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng tư sản dân quyền “là tổ chức ra quân đội công nông”. Đến Luận cương chính trị (tháng 10-1930), Đảng tiếp tục chủ trương “lập quân đội công nông”, đồng thời chỉ rõ, trong giai đoạn đấu tranh chính trị hiện tại là “tổ chức đội tự vệ công nông” và trong thời điểm đấu tranh giành chính quyền là “võ trang cho công nông”. Trong Nghị quyết về Đội Tự vệ (tháng 3-1935), Đảng đề ra khẩu hiệu: “Không một sản nghiệp nào, một làng nào có cơ sở của Đảng, của Đoàn, của các hội quần chúng cách mạng mà không có tổ chức Đội Tự vệ” và chỉ rõ “Đội Tự vệ phải hết sức ủng hộ quần chúng lao động trong các cuộc bãi công, mít tinh, thị oai, kháng sưu, kháng thuế, bãi thị”. Thực hiện chủ trương của Đảng, các đội tự vệ, du kích được thành lập ở nhiều nơi, làm nòng cốt cho sự phát triển của LLVT cách mạng về sau.

Các đơn vị lực lượng vũ trang tại Lễ Quốc khánh 2-9-1945. Ảnh tư liệu

Các đơn vị lực lượng vũ trang tại Lễ Quốc khánh 2-9-1945. Ảnh tư liệu

Vào những năm trực tiếp chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền, các đội tự vệ cứu quốc được thành lập ở những nơi có các hội cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn, các đội du kích được duy trì và phát triển. Tại những nơi có phong trào Việt Minh và lực lượng tự vệ phát triển mạnh, nhất là hai căn cứ địa Cao Bằng và Bắc Sơn-Võ Nhai đã hình thành các đội du kích thoát ly. Đó là các tổ chức vũ trang tập trung làm nòng cốt cho phong trào du kích và cho việc xây dựng, bảo vệ các căn cứ cách mạng tại các tỉnh, huyện. Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941), tháng 6-1941, Đội du kích Bắc Sơn đổi tên thành Cứu quốc quân I. Sau đó, thành lập thêm Cứu quốc quân II (tháng 9-1941) và Cứu quốc quân III (tháng 2-1944).

Trong điều kiện phong trào cách mạng trên đà phát triển mạnh, trên cơ sở các lực lượng tự vệ, du kích các địa phương Cao-Bắc-Lạng đã trưởng thành, để có một lực lượng chủ lực làm nòng cốt cho khởi nghĩa vũ trang, thực hiện chỉ thị Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được thành lập tại căn cứ địa Cao Bằng. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc xây dựng LLVT cách mạng và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ là đội quân vũ trang tập trung chủ lực đầu tiên ở vùng căn cứ Cao-Bắc-Lạng mà còn là đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng cả nước. Với sự ra đời của đội quân chủ lực này, hệ thống tổ chức LLVT cách mạng gồm 3 thứ quân đã được manh nha, gồm: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-đội quân chủ lực; các đội vũ trang thoát ly ở các tỉnh, các châu, huyện và các đội quân địa phương; các đội tự vệ chiến đấu tự vệ cứu quốc ở các làng, xã, xí nghiệp, đường phố-lực lượng bán vũ trang địa phương.

Cùng với xây dựng LLVT, Đảng chỉ đạo xây dựng các căn cứ kháng Nhật, làm bàn đạp cho tổng khởi nghĩa. Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ (tháng 3-1945) nhấn mạnh: “Trong những vùng đủ điều kiện địa hình, cơ sở quần chúng, lương thực, về lực lượng so sánh giữa ta và địch, chúng ta phải xây dựng những căn cứ kháng Nhật”. Ngay sau đó, 7 chiến khu chống Nhật đã hình thành trong cả nước, trong đó 4 khu ở Bắc Bộ, 2 khu ở Trung Bộ, 1 khu ở Nam Bộ. Ngày 4-6-1945, Khu Giải phóng Việt Bắc được thành lập, gồm 2 căn cứ lớn nằm trên địa bàn 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái.

Ngay sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ban hành Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, có giá trị lịch sử, trong đó xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật và nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, vận động, tập hợp nhân dân tham gia cao trào kháng Nhật, cứu nước. Trong thời kỳ này, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, đề ra các khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn cách mạng. Đặc biệt, sau sự kiện Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ “ngàn năm có một” xuất hiện, Đảng đã phát động toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Với sức mạnh đoàn kết và tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, các lực lượng cách mạng, từ lực lượng chính trị đến LLVT và quần chúng nhân dân đã đáp lại lời kêu gọi của Đảng, Mặt trận Việt Minh vùng lên tổng khởi nghĩa trên toàn quốc và giành thắng lợi trong thời gian rất ngắn với tổn thất về nhân lực, vật lực ít nhất.

Có thể khẳng định, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng hùng hồn về nghệ thuật xây dựng và phát triển lực lượng của Đảng, từ lực lượng chính trị đến LLVT, đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Nghệ thuật xây dựng và phát triển lực lượng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được kế thừa, vận dụng thành công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Vận dụng trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/80-nam-cach-mang-thang-tam-va-quoc-khanh-2-9/xay-dung-va-phat-trien-luc-luong-vu-trang-cho-tong-khoi-nghia-843893