Xét xử trực tuyến vụ tranh chấp hơn 2.400m² đất tại Gia Hòa
Ngày 25/8, TAND khu vực 8 - Cần Thơ tổ chức xét xử trực tuyến vụ án dân sự “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”, liên quan diện tích 2.466m² đất tại xã Gia Hòa, TP Cần Thơ.
Tranh chấp phần đất được sử dụng qua nhiều năm
Phiên tòa được tổ chức với điểm cầu trung tâm tại trụ sở TAND khu vực 8 - Cần Thơ và điểm cầu thành phần tại UBND xã Gia Hòa, TP Cần Thơ.

Phiên tòa được kết nối trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm TAND khu vực 8 - Cần Thơ và điểm cầu thành phần tại UBND xã Gia Hòa.
Vụ án có nguyên đơn là ông P.T.L., bị đơn là bà P.T.B.. Phần đất tranh chấp thuộc thửa số 187, tờ bản đồ số 16 (cũ là tờ bản đồ số 09), tọa lạc tại địa bàn nay là ấp Thạnh Bình, xã Gia Hòa, TP Cần Thơ.
Theo trình bày của phía nguyên đơn, mẹ ông L. là bà L.T.B. (mất năm 2017) có phần đất ruộng thuộc thửa số 187, diện tích 6.910m². Phần đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà B. có tên trong sổ mục kê.
Ông L. cho rằng, mẹ mình canh tác, sử dụng ổn định phần đất từ năm 1975. Đến năm 1982, ông Ph.T.L. chiếm một phần diện tích để cho con gái là bà P.T.B. sử dụng. Bà B. đã nhiều lần yêu cầu trả lại đất và đề nghị chính quyền địa phương hòa giải nhưng không thành.
Sau khi bà B. và ông Ph.T.L. qua đời, bà P.T.B. cùng các con tiếp tục quản lý, sử dụng đất. Cho rằng quyền lợi của gia đình bị ảnh hưởng, ông P.T.L. khởi kiện yêu cầu trả lại phần diện tích mà ông cho là bị lấn chiếm.
Ban đầu, nguyên đơn yêu cầu trả lại 4.247,3m². Tại phiên tòa, căn cứ kết quả đo đạc thực tế, người đại diện nguyên đơn không yêu cầu đối với 728,3m² thuộc hành lang bảo vệ sông, đồng thời đồng ý để bà B. sử dụng 100m² đất có nhà ở. Diện tích còn yêu cầu trả lại là 2.466m².

Các đương sự tham gia phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần UBND xã Gia Hòa, TP Cần Thơ.
Bị đơn không đồng ý. Bà B. cho rằng, phần đất có nguồn gốc do cha mình là ông Ph.T.L. khai phá từ năm 1975. Năm 1976, khi bà lập gia đình, cha cho vợ chồng bà tiếp tục khai phá, sử dụng.
Sau khi chồng mất, bà B. cùng các con tiếp tục quản lý, sử dụng đất để ở, nuôi tôm, làm lúa cho đến nay. Theo bà B., gia đình ông L. có đất nằm liền kề nhưng không trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp và giữa các phần đất đã có ranh giới rõ ràng.
Người làm chứng tại phiên tòa cũng trình bày rằng, trong thời gian sinh sống tại địa phương đã thấy gia đình bà P.T.B. quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp và không thấy gia đình ông L. trực tiếp quản lý, sử dụng.
Đại diện VKSND khu vực 8 - Cần Thơ đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xem xét toàn diện chứng cứ và quá trình sử dụng đất
Theo thông tin do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực XXVI - TP Cần Thơ cung cấp, phần đất tranh chấp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sổ mục kê đất đai thể hiện thửa số 187, diện tích 6.910m², loại đất LUC do hộ bà L.T.B. đứng tên.
Quá trình giải quyết vụ án, HĐXX xem xét thông tin trong sổ mục kê cùng quá trình quản lý, sử dụng đất thực tế và các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp.

Hội đồng xét xử TAND khu vực 8 - Cần Thơ tại điểm cầu trung tâm.
HĐXX xác định, phần diện tích 2.466m² đang tranh chấp hiện do bà P.T.B. và gia đình trực tiếp quản lý, sử dụng. Quá trình sử dụng diễn ra công khai, liên tục; trên đất có công trình và nhiều cây trồng.
Theo nhận định của HĐXX, mặc dù bà L.T.B đứng tên trong sổ mục kê nhưng bà B. và ông L. không trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp. Trong khi đó, gia đình bà P.T.B. đã khai thác, sử dụng đất, xây dựng nhà ở, trồng cây trong thời gian dài.
Phần đất do ông L. quản lý nằm cạnh diện tích tranh chấp, giữa hai phần đất đã có ranh giới bằng trụ đá. HĐXX nhận định, bà B. khi còn sống và ông L. biết việc gia đình bà P.T.B. khai thác, sử dụng đất nhưng không ngăn cản hay tranh chấp.
HĐXX cũng căn cứ Điều 184 Bộ luật Dân sự về suy đoán tình trạng và quyền của người chiếm hữu. Theo đó, người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người cho rằng người chiếm hữu không ngay tình phải chứng minh. Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản, người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh người đang chiếm hữu không có quyền.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn, HĐXX nhận định, ông L. căn cứ vào sổ mục kê thể hiện bà B. đứng tên nhưng ngoài tài liệu này không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc phần đất tranh chấp do gia đình mình khai phá, sử dụng và bị phía bà B. lấn chiếm.
Trên cơ sở đánh giá các tài liệu, chứng cứ và quá trình quản lý, sử dụng đất, TAND khu vực 8 - Cần Thơ quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P.T.L. về việc buộc gia đình bà P.T.B. trả lại 2.466m² đất.

