Xuất nhập khẩu đến 15/10 đạt 945 tỷ USD, vượt mốc kim ngạch năm 2025
Lũy kế từ đầu năm 2026 đến ngày 15/10, xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 945 tỷ USD, vượt qua kỷ lục 930 tỷ USD của cả năm 2025, đánh dấu mức kim ngạch cao nhất từ trước tới nay.
Theo số liệu công bố ngày 20/10 của Cục Hải quan, nửa đầu tháng 10/2026 (1/10 – 15/10), kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 56,6 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 29,2 tỷ USD, tăng 50,6% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 27,4 tỷ USD, tăng 46,3% YoY.
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/10, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 945 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 463,7 tỷ USD, tăng 25,8% YoY; nhập khẩu đạt 481,3 tỷ USD, tăng 37,2% YoY. Trong kỳ, Việt Nam nhập siêu 17,6 tỷ USD.
7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD
Trong kỳ, Việt Nam có 7 mặt hàng xuất khẩu có trị giá từ 10 tỷ USD, đạt tổng 329,2 tỷ USD, chiếm 71% tỷ trọng.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với trị giá 135,3 tỷ USD, tăng 65,2% so với cùng kỳ năm trước.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai với kim ngạch 58,6 tỷ USD, tăng 28,9% YoY. Các mặt hàng đứng sau lần lượt là điện thoại và linh kiện đạt 54,3 tỷ USD, tăng 18,1% YoY; dệt may với trị giá 31,8 tỷ USD, tăng 2% YoY; giày dép đạt 19 tỷ USD, tăng 1,7% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 15,9 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2025; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 14,09 tỷ USD, tăng 6,6% YoY.
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam xuất khẩu nhóm này đạt 34,4 tỷ USD. Trong đó, trị giá xuất khẩu thủy sản đạt 9,7 tỷ USD, tăng 11,3% YoY; rau quả đạt 7,7 tỷ USD, tăng 18% YoY.
Cà phê xuất khẩu trong kỳ giảm 6% so với cùng kỳ năm 2025, xuống mức 6,8 tỷ USD; hạt điều tăng nhẹ 2% YoY, đạt 4,08 tỷ USD; gạo giảm 11,4% YoY, đạt 3,1 tỷ USD; hạt tiêu tăng 12,1% YoY, lên mức 1,4 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu chè tăng 3,1% YoY, đạt 182 triệu USD; sắn và sản phẩm từ sắn giảm 3,6% YoY, còn 957,9 triệu USD; quế và hoa quế ở mức 257 triệu USD (cùng kỳ năm trước, Cục Hải quan không công bố số liệu xuất khẩu mặt hàng này).
Một số mặt hàng xuất khẩu trong kỳ tăng trưởng cao về kim ngạch, bao gồm hóa chất tăng 59,5% YoY, lên mức 3,4 tỷ USD; dây điện và dây cáp điện tăng 30,6% YoY, đạt 4,4 tỷ USD; sắt thép tăng 22,1% YoY, đạt 6,5 tỷ USD; đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận tăng 17,6% YoY, lên mức 8,2 tỷ USD.
Ở nhóm năng lượng, ngoài dầu thô giảm 15,6% YoY (còn 893 triệu USD), xuất khẩu các mặt hàng còn lại đều tăng mạnh. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu xăng dầu tăng tới 51,8% YoY, lên mức 1,1 tỷ USD; than tăng 78,8% YoY, đạt 189 triệu USD.
5 mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trên 10 tỷ USD
Lũy kế từ đầu năm đến 15/10, có 5 mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch trên 10 tỷ USD, đạt tổng 293 tỷ USD, chiếm 60% tỷ trọng.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất, đạt 201 tỷ USD, tăng tới 72,9% so với cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng nhập khẩu đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 56,8 tỷ USD, tăng 21,4% YoY; vải đạt 12,2 tỷ USD, tăng 2,9% YoY; kim loại thường khác đạt 11,9 tỷ USD, tăng 37% YoY; chất dẻo nguyên liệu ở mức 10,9 tỷ USD, tăng 10,2% YoY.
Ở nhóm năng lượng, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu tăng tới 78,3% so với cùng kỳ năm trước, lên 9,6 tỷ USD; dầu thô tăng 19,4% YoY, đạt 7,35 tỷ USD; than tăng 36,1% YoY, ở mức 7,33 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu khí đốt hóa lỏng tăng 47,4% so với cùng kỳ năm trước, còn 2,39 tỷ USD; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 49% YoY, đạt 2,3 tỷ USD.
Trong kỳ, một số mặt hàng nhập khẩu khác tăng cao, bao gồm hóa chất tăng 29,2% YoY, đạt 8,09 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 25,4% YoY, đạt 7,8 tỷ USD; quặng và khoáng sản khác tăng tới 60,2% YoY, đạt 3,8 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô tăng 36,8% YoY, đạt 5,97 tỷ USD; ô tô nguyên chiếc tăng 29,2% so với cùng kỳ năm 2025, lên 4,6 tỷ USD; sản phẩm từ kim loại thường khác tăng 21,5% YoY, đạt 4,5 tỷ USD.
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam chi 19,2 tỷ USD để nhập khẩu mặt hàng nhóm này. Trong đó, hạt điều có trị giá lớn nhất với 4,04 tỷ USD, tăng 4,9% YoY.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là ngô với kim ngạch 2,8 tỷ USD, tăng 27,5% YoY; rau quả đạt 2,59 tỷ USD, tăng 28,5% YoY; thủy sản đạt 2,5 tỷ USD, giảm 2,2% YoY; thịt và sản phẩm từ thịt đạt 2,3 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu lúa mì tăng 34,3% so với cùng kỳ năm 2025, lên mức 1,6 tỷ USD; đậu tương tăng tới 73,5% YoY, đạt 1,4 tỷ USD; sữa và sản phẩm sữa tăng nhẹ 1% YoY, đạt 1,2 tỷ USD; sắn và sản phẩm từ sắn đạt 694 triệu USD.

