16 năm đi tìm dấu tiền nhân, giữ nghề mộc bản kinh Phật ở Thanh Liễu
Trước nguy cơ mai một nghề in khắc mộc bản kinh Phật, nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt đã lặn lội qua hàng trăm tự viện để tìm lại danh tính tiền nhân và nỗ lực nối mạch tinh hoa của cha ông.
Tại góc nhỏ bên lề hội thảo khoa học mới đây về Phật hoàng Trần Nhân Tông, một chàng trai trẻ cặm cụi tỉ mẩn bên những tấm ván gỗ nhuốm màu thời gian, đôi bàn tay khéo léo khắc từng nét tinh xảo.
Chàng trai ấy là Nguyễn Công Đạt, nghệ nhân sinh năm 1992, đến từ làng nghề in khắc mộc bản Thanh Liễu (Tân Hưng, Hải Phòng).

Nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt tại một góc nhỏ bên lề hội thảo mới đây ở Hà Nội về Phật hoàng Trần Nhân Tông. Ảnh: Lê Anh Dũng
Chậm rãi mở cuốn kinh sách cổ, Đạt chỉ cho chúng tôi xem chi tiết ít người chú ý.
"Thông thường, người đọc chỉ quan tâm đến nội dung kinh sách. Nhưng khi lật ở những trang đầu hoặc trang cuối - phần tựa bạt hay dòng cước chú - người ta sẽ thấy đề rõ tên tuổi của những người thợ khắc làng Thanh Liễu", nghệ nhân 9x cho hay.

Tên tuổi của những người thợ khắc làng Thanh Liễu được in ở phần tựa bạt hay dòng cước chú của cuốn kinh sách. Ảnh: Lê Anh Dũng
Tương truyền, nghề in khắc mộc bản Thanh Liễu có lịch sử gần 600 năm, khởi nguồn từ Đức Tổ Thám hoa Lương Như Hộc. Sau khi đỗ đạt năm 1442, ông được nhà vua cử đi sứ nhà Minh hai lần vào các năm 1443 và 1459. Tại đây, ông đã tìm hiểu kỹ thuật in khắc bản địa, đem về kết hợp với tinh hoa cổ truyền Việt Nam để sáng tạo nên nghề khắc in mộc bản, rồi truyền dạy cho dân làng Hồng Lục xưa (nay là làng Thanh Liễu).
Nhận thấy giá trị to lớn của nghệ thuật in ấn này trong việc phổ cập tri thức, triều đình xưa đã giao cho nghệ nhân làng Thanh Liễu khắc in nhiều bộ quốc sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, hay các bộ luật như Luật Hồng Đức...
Không dừng lại ở vai trò phục vụ thể chế, mộc bản Thanh Liễu còn gắn bó đặc biệt sâu sắc với đời sống tâm linh Phật giáo. Suốt nhiều thế kỷ, bàn tay tài hoa của các thợ khắc Thanh Liễu đã tạo nên những kiệt tác kinh tạng lưu giữ tại các chốn tổ đình Bắc Bộ: từ bộ Như Lai ứng hiện đồ, Thiền tông bản hạnh tại chùa Vĩnh Nghiêm, đến Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông ở chùa Trăm Gian (hiện là Bảo vật Quốc gia) hay bộ Đại bảo tích kinh tại chùa Bà Đá...
Hành trình giải mã danh tính tiền nhân và đỉnh cao tuyệt kỹ "tơ tóc"
Đằng sau những bản kinh cổ còn lưu giữ là hành trình nỗ lực thầm lặng, bền bỉ đi tìm dấu vết cha ông của nghệ nhân Nguyễn Công Đạt.
Để minh chứng cho vị thế của làng nghề Thanh Liễu, từ năm 2010, Đạt đã lặn lội qua hàng trăm ngôi chùa cổ trên khắp các vùng đất di sản - từ Bồ Đề, Bà Đá, Liên Phái (Hà Nội), Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà (Bắc Giang cũ), Dư Hàng (Hải Phòng) đến Trăm Gian, Đỗ Lâm (Hải Dương cũ)...
"Kinh sách là 'Pháp bảo', thường được cất giữ cẩn trọng trong tàng kinh các. Không phải lúc nào đến chùa xin xem cũng được. Có những chốn tổ tôi phải đi lại 5 đến 10 lần mới đủ duyên gặp các thầy. Nhưng cảm xúc vỡ òa nhất là khi lật giở những trang kinh cũ, đọc từng dòng chữ Hán mờ mòn và tìm thấy chính xác tên tuổi, quê quán của các cụ làng mình", Đạt kể.
Đến nay, Nguyễn Công Đạt đã tổng hợp được danh tính của hơn 250 cụ nghệ nhân Thanh Liễu từng tham gia khắc in kinh sách từ năm 1698 đến trước năm 1945. Nghệ nhân 9x này chính là thế hệ thứ 17 trong dòng họ Nguyễn Công nối tiếp mạch nghề in khắc mộc bản.
Kỹ thuật "khắc tơ tóc" cho phép tạo ra những nét khắc mảnh mai như sợi tơ, sợi tóc để thể hiện sinh động thần thái của các vị tôn giả. Tiêu biểu như tác phẩm mộc bản Như Lai ứng hiện đồ (miêu tả cuộc đời Đức Phật Thích Ca với hơn 500 vị La Hán) được cụ tổ đời trước của anh Đạt in khắc vào năm 1858 tại chùa Đỗ Lâm (Hải Dương cũ).
Đạt cho biết, khác với việc chế tác tranh dân gian thông thường như Hàng Trống hay Đông Hồ, khắc mộc bản kinh Phật đòi hỏi một quy trình tâm linh nghiêm cẩn. Mộc bản được coi là "bản gốc của bản gốc", trước khi chạm dao phải được Giáo hội và hội đồng chứng minh của chùa làm lễ. Bản thân nghệ nhân phải ăn chay, niệm Phật, giữ tâm thanh tịnh và hồi hướng trước khi hạ xuống những nhát dao đầu tiên. Khi hoàn thành bộ kinh, nghệ nhân lại phải làm lễ trình báo với Phật thánh và trời đất.
Giới thiệu cho chúng tôi xem bản khắc Như Lai ứng hiện đồ - tác phẩm kinh điển do chính cụ tổ đời trước của dòng họ là Nguyễn Công Thiệp khắc năm 1858 (thời Tự Đức), nghệ nhân trẻ 9x nhấn mạnh 4 kỹ thuật cốt lõi: khắc âm bản, khắc dương bản, khắc khoét lòng và đặc biệt nhất là khắc tơ tóc.
Kỹ thuật tơ tóc cho phép thể hiện những đường nét mảnh như sợi tơ, từng được áp dụng để tạo hình sống động diện mạo của hơn 500 vị La Hán hay từng chi tiết biểu cảm trên gương mặt Đức Phật.

Kỹ thuật tơ tóc cho phép thể hiện những đường nét mảnh như sợi tơ. Ảnh: Bình Minh

Người thợ Thanh Liễu sử dụng loại dao ngang độc đáo do Đức Tổ Lương Như Hộc sáng tạo ra, hoàn toàn khác biệt so với kỹ thuật dùng dao chéo của Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Ảnh: Bình Minh
Để làm được điều này, người thợ Thanh Liễu sử dụng loại dao ngang độc đáo do Đức Tổ Lương Như Hộc sáng tạo ra, hoàn toàn khác biệt so với kỹ thuật dùng dao chéo của Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc.
Trước sự phát triển của công nghệ hiện đại, khi nhiều người tin rằng máy CNC có thể thay thế bàn tay con người, nghệ nhân Nguyễn Công Đạt khẳng định: "Riêng với mộc bản dùng để in ấn thì chỉ kỹ thuật thủ công dùng dao ngang của người thợ Thanh Liễu mới làm được nét tơ tóc mảnh mịn. Nếu dùng máy khắc, ván sẽ lập tức bị vỡ nét khi tiếp xúc với nước và lực in khắc".
Khát vọng nối mạch di sản
Tốt nghiệp ngành Thiết kế nội thất - Viện Đại học Mở, có nhiều lựa chọn nghề nghiệp hiện đại, song Nguyễn Công Đạt vẫn chọn con đường gắn bó với nghề cổ của làng.
Suốt 16 năm qua, anh tự mày mò học chữ Hán - Nôm, tìm kiếm tư liệu và phối hợp cùng các nhà nghiên cứu để trau dồi tri thức, phục vụ cho việc khôi phục các bản khắc.
Những nỗ lực ấy đã “đơm hoa kết trái” bằng nhiều công trình cụ thể. Gần đây nhất, Nguyễn Công Đạt cùng bác ruột là nghệ nhân Nguyễn Công Tráng (67 tuổi) đã hoàn thành việc in khắc bộ mộc bản Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ - tác phẩm tái hiện hành trình Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông rời Hành cung Vũ Lâm về triều đình.
“Mọi nghi thức truyền thống đều được hai bác cháu giữ nguyên vẹn. Những nhát dao "khai ván" đầu tiên được thực hiện ngay tại chùa Vĩnh Nghiêm, và khi hoàn thành, tác phẩm cũng được dâng lên báo cáo trước Đức Phật Hoàng cùng Trúc Lâm Tam Tổ”, Đạt chia sẻ.


Số lượng người nắm giữ được bí quyết kỹ nghệ in khắc mộc bản tại làng Thanh Liễu hiện chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Ảnh: Lê Anh Dũng
Bên cạnh niềm vui phục dựng được nhiều nét tinh hoa của ông cha, trong tâm trí nghệ nhân trẻ 9x vẫn không thôi trăn trở về sự mai một nghề truyền thống.
Trải qua thời gian và chiến tranh, biết bao bộ ván kinh quý giá đã bị hư hỏng hoặc thất lạc. Điển hình như tại chùa Dâu (Bắc Ninh), kho mộc bản từ hàng nghìn tấm nay chỉ còn lại gần 200 ván. Trong khi đó, số lượng người nắm giữ được bí quyết kỹ nghệ in khắc mộc bản tại làng Thanh Liễu hiện chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.
"Di sản không thể chỉ bảo tồn trong tủ kính hay nằm ở góc độ cá nhân người thợ. Bản chất của mộc bản là được tạo ra để in ấn, để truyền tải tri thức đến cộng đồng. Muốn nghề sống được, thế hệ trẻ phải được chạm, được trải nghiệm trực tiếp với di sản", Đạt bộc bạch.
Năm 2023, Nguyễn Công Đạt cùng các nghệ nhân khác đã thành lập Hội Mộc bản làng Thanh Liễu; tích cực tiến hành nhiều hoạt động để Thanh Liễu được công nhận là làng nghề truyền thống.
Chính vì vậy, bên cạnh dự án hợp tác với các nhà nghiên cứu Hán - Nôm để trùng ấn bộ kinh cổ, Nguyễn Công Đạt cùng Hội Mộc bản làng Thanh Liễu đang tích cực tổ chức các buổi chia sẻ, truyền dạy kỹ năng miễn phí cho giới trẻ. Anh rất mong muốn đưa hoạt động trải nghiệm mộc bản vào không gian giáo dục di sản tại các trường học và điểm du lịch.
Khép lại cuộc trò chuyện với chúng tôi, nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt đau đáu gửi gắm thông điệp: Để Tam tạng kinh điển - kho tàng văn hóa vô giá của dân tộc - tiếp tục được nối mạch, rất cần sự chung tay đồng bộ từ chính quyền địa phương, các nhà khoa học và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

