20 năm gia nhập WTO: Hành trình mở 149 'cánh cửa' đàm phán đến 'sân chơi' toàn cầu

Nhân dịp 20 năm gia nhập WTO, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ đã kể lại những ký ức khó quên, nhìn lại thành quả và gửi gắm điều người đàm phán hôm nay cần giữ vững.

Ngày 4/1/1995, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chấp nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam. Khi ấy, nền kinh tế nước nhà mới bước đầu ra khỏi tình trạng trì trệ, cán cân thương mại suốt những năm 1991 - 1995 luôn nhập siêu. Phải 11 năm đàm phán, ngày 7/11/2006, Đại hội đồng WTO tại Geneva (Thụy Sỹ) mới thông qua việc kết nạp Việt Nam. Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI ra Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập. Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO.

20 năm sau khi Việt Nam được kết nạp là thành viên WTO, phóng viên Báo Công Thương trò chuyện với ông Lương Văn Tự, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, nay là Bộ Công Thương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế thương mại, nguyên Trưởng đoàn đàm gia nhập WTO và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) - người chỉ đạo trực tiếp Đoàn đàm phán lúc đó với trên 200 phiên đàm phán.

Ông Lương Văn Tự, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, nay là Bộ Công Thương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế thương mại, nguyên Trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO và AEC chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương.

Ông Lương Văn Tự, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, nay là Bộ Công Thương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế thương mại, nguyên Trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO và AEC chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương.

"Hành trình cam go, suýt đổ vỡ nhiều lần"

- Thưa ông, nhìn lại hành trình 11 năm đàm phán gia nhập WTO, nếu chọn một kỷ niệm mà đến giờ ông vẫn nhớ như in, ông sẽ kể câu chuyện nào?

Ông Lương Văn Tự: Thời điểm đó, WTO có 149 thành viên cùng khoảng 30 nước đang xin gia nhập, trong đó có Việt Nam. Trước hết, phải hiểu rằng gia nhập WTO là chúng ta phải đàm phán, "đi qua" 149 nước và vùng lãnh thổ. Đấy là 149 "cánh cửa" mà đoàn đàm phán đã nỗ lực vượt qua.

Để gia nhập WTO, chúng ta phải đàm phán cả đa phương lẫn song phương. Đàm phán đa phương là để minh bạch hóa chính sách, đi tới cam kết về chính sách kinh tế vĩ mô. Đàm phán song phương là đàm phán với từng thành viên WTO về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ; Việt Nam đã đàm phán với 27 đối tác. 

Điều tôi và nhiều thành viên trong đoàn nhớ nhất là những đêm đàm phán với Hoa Kỳ. Là một trong những nước sáng lập WTO, Hoa Kỳ đặt ra yêu cầu cao nhất. Đã có hai lần đàm phán suýt đổ vỡ. Nhưng phải kiên trì, vì thành công với Hoa Kỳ sẽ thành công với các nước khác. Có vào được WTO, chúng ta mới có thị trường toàn cầu; trước đó ta chỉ có hiệp định song phương với từng nước.

Căng thẳng nhất là phiên cuối cùng đàm phán vào năm 2005. Có lúc tôi phải nói với anh em: “Tớ sợ đàm phán vỡ mất!”. Nhưng đặt lợi ích đất nước lên trên hết, cả đoàn ngồi lại với nhau để thuyết phục phía bạn. Hôm sau, các vấn đề then chốt được thỏa thuận, trong đó có các nội dung liên quan đến dệt may.

Năm 2000, Việt Nam và Hoa Kỳ ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA). Nhưng do Luật cấm vận Jackson Venik 1974*, quy chế thương mại bình thường của Việt Nam vẫn chỉ được gia hạn từng năm. Ngày 31/5/2006, hai nước ký thỏa thuận song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO. Sau đó, Quốc hội Hoa Kỳ phải bỏ phiếu hai lần, đến tháng 12/2006 mới thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam, chấm dứt áp dụng Luật cấm vận Jackson Venik. Từ đó, thị trường vốn và thị trường thương mại thế giới mới mở cửa đầy đủ cho Việt Nam.

Đó là phần cam go nhất, nhiều lần suýt vỡ, đàm phán thâu đêm. Nếu anh em không kiên trì, đã không trụ nổi.

- Hai mươi năm nhìn lại, theo ông, đâu là những thành quả lớn nhất mà đất nước có được từ quyết định hội nhập lịch sử này?

Ông Lương Văn Tự: Thứ nhất, phía Hoa Kỳ đã bỏ được Luật Jackson Venik 1974 và trao quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam. Việt Nam có được một sân chơi toàn cầu.

Thứ hai, hệ thống pháp luật từng bước hoàn thiện và đồng bộ kể khi gia nhập WTO. Đến nay, Việt Nam đã sửa đổi trên 100 luật, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Gia nhập WTO đã thúc đẩy quá trình cải cách mạnh mẽ trong hệ thống pháp lý và thể chế kinh tế của Việt Nam. Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã nỗ lực sửa đổi, hoàn thiện nhiều quy định pháp luật về đầu tư, thương mại và xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Những cải cách này giúp nâng cao tính minh bạch trong quản lý kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Phó Đại diện thương mại Mỹ Karan Bhatia và Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự ký kết thúc đàm phán song phương với Mỹ về việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 31/5/2006 tại TP. Hồ Chí Minh.

Phó Đại diện thương mại Mỹ Karan Bhatia và Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự ký kết thúc đàm phán song phương với Mỹ về việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 31/5/2006 tại TP. Hồ Chí Minh.

Thứ ba là thay đổi tư duy. Gia nhập WTO, doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh sòng phẳng, tự tìm thị trường, tự đổi mới để đứng vững. Từ chỗ bị động, đến nay, doanh nghiệp Việt đã chủ động hội nhập, đưa hàng hóa có mặt ở 237 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 36 thị trường xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD (tính đến hết tháng 10/2026, theo báo cáo của Cục Thống kê). Cả nước hiện có gần 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có nhiều “sếu đầu đàn" dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ và vừa vươn ra thế giới.

Thứ tư, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên rõ rệt, thể hiện bằng những con số rất cụ thể. Trước khi gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 đạt khoảng 32,4 tỷ USD và năm 2006 đạt 39,6 tỷ USD; đến nay 10 tháng năm 2026 đạt gần 500 tỷ USD.

Về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, năm 2007 đạt chưa tới 100 tỷ USD. Đến năm 2025, con số này đã vượt 930 tỷ USD, và chỉ trong 10 tháng năm 2026 đã đạt 1.010 tỷ USD, tăng khoảng 15 lần. GDP bình quân đầu người tăng khoảng 7 lần, từ khoảng 730 USD năm 2006 lên hơn 5.000 USD năm 2025. Quy mô nền kinh tế từ vị trí thứ 61 thế giới nay đã vươn lên thứ 33. Dòng vốn FDI trước đây mỗi năm chỉ vài tỷ USD, đến nay tổng vốn đăng ký lũy kế đã vượt 540 tỷ USD.

Thứ năm, WTO tạo nền tảng cho cả tiến trình hội nhập sau này. Có WTO, chúng ta mới mở rộng ra mạng lưới FTA với các đối tác lớn: từ CPTPP, EVFTA, RCEP, UKVFTA đến Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện với UAE (CEPA), FTA đầu tiên của Việt Nam với một nước Arab.

Gần đây nhất, ngày 18/10/2026, Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) sau 14 năm đàm phán. Đây là FTA thứ 18 của Việt Nam, đưa mạng lưới FTA mở rộng tới gần 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tất cả các hiệp định này đều xây trên nền WTO: theo cam kết WTO, thuế nhập khẩu bình quân của Việt Nam là 13,4%; với các FTA, mức thuế tiếp tục giảm sâu, phần lớn tiến về 0-5%. Cũng từ nền tảng ấy, Việt Nam từng bước xây dựng mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện. Đến nay, Việt Nam có 16 đối tác chiến lược toàn diện, gần nhất là Đan Mạch (tháng 10/2026).

Ngày 31/5/2006, tại TP. Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự ký Hiệp định gia nhập WTO với ông Karan Bhatia - Phó Đại diện thương mại Hoa Kỳ.

Ngày 31/5/2006, tại TP. Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự ký Hiệp định gia nhập WTO với ông Karan Bhatia - Phó Đại diện thương mại Hoa Kỳ.

Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, văn kiện mà chúng tôi được tham gia soạn thảo khi ấy mới chỉ đề cập lĩnh vực kinh tế. 20 năm sau, hội nhập đã mở rộng sang cả an ninh, quốc phòng, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục. Điều đáng mừng nhất là hội nhập sâu rộng như vậy, chúng ta vẫn giữ vững được ổn định chính trị, xã hội. Điều đó cho thấy chúng ta đã đi đúng con đường Bác Hồ chỉ dẫn. Ngay từ tháng 12/1946, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, tr. 523).

Hội nhập song song với nâng cao năng lực quản lý

- Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Ông nhận định chặng đường hội nhập tiếp theo của Việt Nam thế nào, thưa ông?

Ông Lương Văn Tự: Nhìn ra thế giới, nước nào mở cửa mà quản lý tốt trong nước thì nước đó ổn định và phát triển. Việt Nam vươn lên nhóm nước thu nhập trung bình cao là nhờ kiên định con đường mở cửa, hội nhập theo chủ trương đúng đắn của Đảng.

Mục tiêu ban đầu của hội nhập có ba điểm: mở thị trường hàng hóa, dịch vụ; thu hút vốn và công nghệ; học hỏi kỹ năng quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước. Vì vậy, trong quá trình hội nhập, chúng ta đã cử rất nhiều cán bộ đi học các khóa ngắn hạn ở nước ngoài.

Bối cảnh hiện nay đã khác trước. Thế giới có nhiều biến động trên nhiều mặt, khoa học, công nghệ phát triển rất nhanh, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng. Muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao, chúng ta phải tiếp tục hội nhập, đồng thời quản lý tốt trong nước và đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp Việt.

Gia nhập WTO tạo nền tảng cho cả tiến trình hội nhập của Việt Nam sau này.

Gia nhập WTO tạo nền tảng cho cả tiến trình hội nhập của Việt Nam sau này.

Điều tôi trăn trở là tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước còn thấp, mới khoảng 20%. Dù vậy, so với trước, doanh nghiệp Việt đã trưởng thành rất nhiều. Nhiều doanh nghiệp đã tự tin bước ra sân chơi toàn cầu, đầu tư ra nước ngoài, đầu tư vào công nghiệp thép, chế biến thực phẩm, chế biến nông sản để nâng cao giá trị.

Chặng đường tới, hội nhập phải tiếp tục được đẩy mạnh, song song với nâng cao năng lực quản lý. Tăng trưởng nhanh phải đi cùng chất lượng và hiệu quả, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát. Điều đó đòi hỏi năng lực quản lý vĩ mô và quản trị rủi ro cho nền kinh tế.

Với doanh nghiệp, mở rộng thị trường phải đi đôi với quản trị rủi ro. Dòng vốn đầu tư luôn dịch chuyển theo hiệu quả, và các ưu đãi rồi sẽ giảm dần. Vì vậy, doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh, cụ thể là ba việc.

Một là sản phẩm phải có giá thành cạnh tranh, chất lượng cao hơn và nguồn cung ổn định để giữ uy tín với thị trường.

Hai là đầu tư công nghệ, không chỉ công nghệ điện tử mà cả công nghệ chế biến để nâng giá trị gia tăng cho nông nghiệp, lĩnh vực có vai trò rất quan trọng của nền kinh tế.

Ba và quan trọng nhất là đầu tư cho con người. Đó là những người giỏi quản lý, giỏi ngoại ngữ, có tinh thần yêu nước và trách nhiệm với tương lai đất nước. Suy cho cùng, con người mới là yếu tố quyết định.

- Ông muốn nhắn gửi điều gì tới thế hệ cán bộ đang trực tiếp đàm phán các FTA thế hệ mới và làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế hôm nay, thưa ông?

Ông Lương Văn Tự: Điều đầu tiên với người đàm phán là bản lĩnh, trước hết là bản lĩnh chính trị. Trước những biến động của thế giới, người đàm phán phải vững vàng thì mới đứng được trên bàn đàm phán.

Thứ hai là phải am hiểu đối tác. Ông cha ta dạy: “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”.

Thứ ba là kiên trì với mục tiêu. Ngày ấy, đối tác đặt ra yêu cầu rất cao, trong khi vị thế của ta còn yếu; không kiên trì thì không thể đi đến đích. Hôm nay nền kinh tế đã vững vàng, vị thế của Việt Nam đã khác nhiều, đó là thuận lợi lớn cho thế hệ sau.

Thứ tư, đàm phán bây giờ là để hai bên cùng có lợi. Phải đặt lên bàn cân: mỗi bên mở cửa những gì, được gì, chia sẻ lợi ích ra sao.

Cuối cùng là phải có cách nhìn tổng thể. Đàm phán không chỉ tính lợi ích của từng ngành, từng mặt hàng mà phải cân đối lợi ích chung của cả nền kinh tế. Trong đó, doanh nghiệp cần được gắn chặt vào tiến trình hội nhập, cùng Nhà nước tận dụng cơ hội và chung tay vì sự phát triển chung của đất nước.

- Trân trọng cảm ơn ông!

20 năm sau, trong buổi tiếp Thủ tướng Lê Minh Hưng ngày 12/9/2026 tại New Delhi (Ấn Độ), Tổng Giám đốc WTO Ngozi Okonjo-Iweala đánh giá Việt Nam là minh chứng tiêu biểu cho sự thành công của WTO cùng hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ. Cũng trong tháng 11/2026, Việt Nam bước vào Phiên rà soát chính sách thương mại định kỳ lần thứ 3 tại WTO.

* Luật Jackson-Venik (1974) của Hoa Kỳ hạn chế quan hệ thương mại với các nền kinh tế phi thị trường. Việt Nam chỉ được miễn trừ theo từng năm, cho tới khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua quy chế PNTR vào tháng 12/2006. Quy chế này có hiệu lực khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO ngày 11/1/2007.

Hoàng Hòa (thực hiện)

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/20-nam-gia-nhap-wto-hanh-trinh-mo-149-canh-cua-dam-phan-den-san-choi-toan-cau-480206.html