22 sản phẩm công nghệ chiến lược: Hiện trạng, năng lực và dư địa phát triển

Ngành Công Thương xác định 3 bài toán lớn với 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, hướng tới bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp và hiện đại hóa thương mại, logistics. Bức tranh bước đầu cho thấy những lĩnh vực đã có nền tảng triển khai, đồng thời đặt ra yêu cầu xác định rõ khoảng trống công nghệ, mức độ phụ thuộc nhập khẩu và lộ trình phát triển phù hợp.

Ba bài toán lớn, 22 nhóm sản phẩm trọng tâm

Triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 808), Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch thực hiện kèm theo Quyết định số 2159/QĐ-BCT ngày 04/9/2026, xác định 3 bài toán lớn với 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, cụ thể hóa thành 76 sản phẩm chi tiết, phân công cho 8 đơn vị chủ trì. Theo Kế hoạch, trong số này có 47 sản phẩm bắt đầu triển khai từ năm 2026.

Cách tiếp cận của ngành không dừng ở việc xác định danh mục công nghệ cần phát triển, mà hướng tới gắn từng nhóm sản phẩm với nhu cầu thực tiễn, đơn vị chịu trách nhiệm và cơ chế tổ chức thực hiện. Ba bài toán được đặt ra có mối liên hệ chặt chẽ: bảo đảm nguồn cung năng lượng và hiện đại hóa hệ thống điện; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, phát triển chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh; đồng thời hiện đại hóa thương mại trong nước và quốc tế bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.

Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số Nguyễn Thị Lâm Giang cho biết, Cục đã lập bộ Hồ sơ rút gọn của 22 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Kế hoạch của Bộ Công Thương triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg

Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số Nguyễn Thị Lâm Giang cho biết, Cục đã lập bộ Hồ sơ rút gọn của 22 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Kế hoạch của Bộ Công Thương triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg

Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang – Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Cục đã lập bộ Hồ sơ rút gọn của 22 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Kế hoạch của Bộ Công Thương triển khai Quyết định số 808, gắn với 11 Cục, Vụ; 50 doanh nghiệp; trên 30 viện, trường và 28 Sở Công Thương tham gia triển khai thực hiện. Mỗi sản phẩm được mô tả thống nhất bằng 08 trường thông tin và gắn với một trong 03 bài toán lớn của ngành, bao gồm: Tên sản phẩm, sản phẩm chi tiết, công nghệ, chủ thể,  mức sẵn sàng công nghệ, quy mô thị trường, mức độ phụ thuộc nhập khẩu, mức độ tự chủ, nội địa hóa, năng suất đóng góp vào mục tiêu chiến lược. Đây là những đánh giá sơ bộ trên cơ sở dữ liệu công khai đến ngày 05/10/2026. Dự kiến Cục sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu sống để cập nhật tiến độ liên tục.

Theo hồ sơ do Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số xây dựng, bài toán thứ nhất về an ninh năng lượng gồm 9 nhóm sản phẩm. Trọng tâm là bản sao số và trí tuệ nhân tạo chuyên ngành năng lượng; hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS); pin, ắc quy tiên tiến; hydrogen xanh, nhiên liệu sinh học; thiết bị điện cao áp, máy điện; truyền tải, truyền động điện hiện đại; thiết bị, hệ thống biển sâu, ngoài khơi; thu giữ, sử dụng, lưu trữ carbon (CCUS); khai thác, chế biến sâu dầu khí.

Bài toán thứ hai về tự chủ công nghiệp cũng gồm 9 nhóm sản phẩm. Các nhóm công nghệ trải rộng từ bản sao số, AI, camera biên cho sản xuất; blockchain, truy xuất nguồn gốc; robot tự hành, robot công nghiệp; nền tảng sản xuất thông minh đến vật liệu tiên tiến, vật liệu chức năng hiệu năng cao, chế biến sâu nông sản và sinh khối, chế biến sâu khoáng sản và đất hiếm, công nghiệp đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.

Trong khi đó, bài toán thứ ba về thương mại, logistics tập trung vào 4 nhóm sản phẩm: AI và camera biên cho thương mại, logistics; bản sao số cảng, kho, logistics; blockchain, truy xuất nguồn gốc thương mại; robot và phương tiện tự hành AMR/AGV cho logistics.

Việc phân nhóm cho thấy phạm vi công nghệ chiến lược của ngành Công Thương không chỉ nằm ở những thiết bị, dây chuyền công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, mà còn bao gồm các nền tảng số, giải pháp quản trị và công nghệ phục vụ tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Đây cũng là cơ sở để tổ chức nhiệm vụ theo từng lĩnh vực quản lý, đồng thời kết nối cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học.

Hiện trạng công nghệ: Những lĩnh vực có thể triển khai sớm

Một trong những nội dung nổi bật trong Kế hoạch là việc bước đầu đặt các sản phẩm công nghệ chiến lược trong tương quan giữa mức độ sẵn sàng công nghệ, quy mô thị trường và mức độ phụ thuộc nhập khẩu. Cách tiếp cận này giúp nhận diện những nhóm sản phẩm có thể tiến tới thương mại hóa trong thời gian gần, cũng như các lĩnh vực cần đầu tư dài hạn hoặc hợp tác phát triển công nghệ.

Ở bài toán an ninh năng lượng, hệ thống lưu trữ năng lượng BESS được đánh giá có mức sẵn sàng công nghệ TRL 6-8, quy mô thị trường lớn và mức độ phụ thuộc nhập khẩu cao. Thiết bị điện cao áp, máy điện có dải mức sẵn sàng công nghệ TRL 3-9, quy mô thị trường rất lớn. Với thiết bị, hệ thống biển sâu và ngoài khơi, tài liệu ghi nhận mức sẵn sàng TRL 3-6, quy mô thị trường rất lớn và mức độ phụ thuộc nhập khẩu trung bình.

Những đánh giá này cho thấy các sản phẩm trong cùng một bài toán có thể ở những giai đoạn phát triển khác nhau. Với sản phẩm đã có mức sẵn sàng công nghệ tương đối cao, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện, xác nhận năng lực và tìm kiếm điều kiện ứng dụng, thương mại hóa. Ngược lại, những công nghệ còn ở giai đoạn nghiên cứu, phát triển hoặc thử nghiệm cần lộ trình dài hơn, gắn với năng lực nghiên cứu trong nước và khả năng hợp tác, chuyển giao công nghệ.

Đối với bài toán tự chủ công nghiệp, sự phân hóa cũng thể hiện rõ. Nhóm blockchain, truy xuất nguồn gốc sản phẩm được đánh giá ở mức TRL 5-6, với quy mô thị trường lớn và mức độ phụ thuộc nhập khẩu trung bình. Trong khi đó, robot tự hành, robot công nghiệp có mức sẵn sàng TRL 4-6, quy mô thị trường trung bình nhưng mức độ phụ thuộc nhập khẩu được đánh giá rất cao. Nền tảng, giải pháp sản xuất thông minh có mức sẵn sàng TRL 4-7, thị trường lớn và mức độ phụ thuộc nhập khẩu rất cao.

Robot hóa khâu lắp ráp sản phẩm của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông

Robot hóa khâu lắp ráp sản phẩm của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông

Với các nhóm vật liệu tiên tiến, vật liệu chức năng hiệu năng cao và chế biến sâu, dư địa phát triển gắn với cả nhu cầu thị trường lẫn khả năng nâng cao giá trị trong chuỗi sản xuất. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng công nghệ có sự khác biệt đáng kể giữa các sản phẩm chi tiết. Vì vậy, việc xác định hướng ưu tiên cần đi cùng đánh giá cụ thể về năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, tích hợp và khả năng sản xuất ở quy mô thương mại.

Ở bài toán thương mại, logistics, AI và camera biên được đánh giá ở mức TRL 5-7, quy mô thị trường lớn; bản sao số cảng, kho, logistics ở mức TRL 3-5. Blockchain, truy xuất nguồn gốc thương mại được đánh giá ở mức TRL 6-7, với mức độ phụ thuộc nhập khẩu thấp. Hồ sơ rút gọn của 22 sản phẩm công nghệ chiến lược nhận định hạ tầng truy xuất nguồn gốc đã do trong nước làm chủ, trong khi robot kho đã có sản phẩm thương mại.

Đây là những dấu hiệu cho thấy một số công nghệ số có thể được triển khai nhanh hơn nếu có hạ tầng dữ liệu phù hợp và nhu cầu ứng dụng rõ ràng. Dù vậy, khả năng nhân rộng vẫn cần được xem xét trên cơ sở điều kiện thực tế của doanh nghiệp, mức độ kết nối dữ liệu và hiệu quả ứng dụng trong từng khâu của chuỗi cung ứng.

Nhận diện khoảng trống, lựa chọn hướng phát triển

Từ bức tranh 22 nhóm sản phẩm, bài toán đặt ra không chỉ là phát triển thêm công nghệ, mà còn phải xác định công nghệ nào cần ưu tiên làm chủ, công nghệ nào có thể thương mại hóa sớm và lĩnh vực nào cần đầu tư dài hạn.

Theo Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số Nguyễn Thị Lâm Giang, định hướng ưu tiên dựa trên mức độ sẵn sàng công nghệ và quy mô thị trường. Theo đó, nhóm sản phẩm có khả năng sớm tạo ra kết quả trong giai đoạn 2026-2027 gồm BESS, thiết bị điện cao áp và máy điện, thiết bị và hệ thống biển sâu, ngoài khơi, vật liệu chức năng hiệu năng cao, blockchain truy xuất nguồn gốc thương mại và robot logistics. Định hướng đối với nhóm này là thúc đẩy thương mại hóa, xác nhận sản phẩm và đặt hàng mua sắm.

Ở chiều ngược lại, các nhóm hydrogen xanh, nhiên liệu sinh học; truyền tải, truyền động điện hiện đại; thu giữ, sử dụng, lưu trữ carbon; robot tự hành, robot công nghiệp; công nghiệp đường sắt tốc độ cao và đô thị được đưa vào nhóm cần chú ý về khoảng trống công nghệ. Với các sản phẩm có mức sẵn sàng công nghệ không quá TRL 6, định hướng hợp tác, chuyển giao có điều kiện và đặt hàng dài hạn.

Hệ thống bồn chứa xăng sinh học của PVOIL

Hệ thống bồn chứa xăng sinh học của PVOIL

Đáng chú ý, nhóm sản phẩm được xác định có thị trường rất lớn gồm thiết bị điện cao áp, máy điện; thiết bị, hệ thống biển sâu, ngoài khơi; khai thác, chế biến sâu dầu khí; vật liệu tiên tiến; chế biến sâu nông sản, sinh khối; công nghiệp đường sắt tốc độ cao và đô thị. Theo Cục trưởng Nguyễn Thị Lâm Giang, nội địa hóa ở những lĩnh vực này có thể tạo tác động lớn đối với tăng trưởng. Tuy nhiên, quy mô thị trường lớn mới là một điều kiện; để biến dư địa thành năng lực sản xuất trong nước, cần xác định rõ công nghệ cốt lõi, năng lực doanh nghiệp và khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật.

Qua phân tích trong Hồ sơ, Bộ Công Thương cũng đề nghị các đơn vị sử dụng bộ 8 trường thông tin làm dữ liệu khởi tạo cho cơ sở dữ liệu hiện trạng, năng lực sản phẩm công nghệ chiến lược ngành Công Thương và cập nhật định kỳ 6 tháng một lần.

Đây là bước quan trọng để chuyển danh mục sản phẩm từ một bản tổng hợp định hướng thành công cụ phục vụ quản lý, theo dõi và lựa chọn nhiệm vụ. Khi thông tin về công nghệ, thị trường, năng lực trong nước và nhu cầu nhập khẩu được chuẩn hóa, các cơ quan quản lý sẽ có thêm cơ sở xác định thứ tự ưu tiên, doanh nghiệp có thể nhận diện rõ hơn cơ hội tham gia, còn viện nghiên cứu và trường đại học có điều kiện kết nối hoạt động nghiên cứu với yêu cầu cụ thể của sản xuất.

Phát triển 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược không chỉ là nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ. Đây còn là quá trình tổ chức lại mối liên kết giữa chính sách, nguồn lực, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hệ thống nghiên cứu. Hiệu quả cuối cùng cần được nhìn nhận qua năng lực làm chủ công nghệ, sản phẩm được ứng dụng và thương mại hóa, tỷ lệ nội địa hóa và đóng góp thực tế đối với năng suất, sức cạnh tranh của ngành Công Thương.

Hồ Nga

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/22-san-pham-cong-nghe-chien-luoc--hien-trang--nang-luc-va-du-dia-phat-trien-556859.htm