29 năm Trợ giúp pháp lý Việt Nam: Tiếp tục hướng tới nền trợ giúp pháp lý chuyên nghiệp, hiện đại, lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm
Nhân dịp kỷ niệm 29 năm Ngày thành lập Hệ thống trợ giúp pháp lý (TGPL) ở Việt Nam (06/9/1997 – 06/9/2026), Phóng viên đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Cù Thu Anh.
Phóng viên: Thưa Cục trưởng, năm 2026 đánh dấu 29 năm hình thành và phát triển của TGPL Việt Nam, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL được thông qua và công tác TGPL tiếp tục được khẳng định trong các chủ trương, định hướng lớn của Đảng. Ông có thể chia sẻ những kết quả nổi bật của công tác TGPL trong những năm gần đây?
Cục trưởng Cù Thu Anh: Trải qua 29 năm hình thành và phát triển, TGPL đã từng bước khẳng định vai trò là một chính sách có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật của người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội. Nhìn lại những năm gần đây, tôi cho rằng công tác TGPL đã có những bước chuyển khá toàn diện, trong đó có thể nhấn mạnh bốn kết quả nổi bật sau:
Thứ nhất, hoạt động TGPL ngày càng nhận được sự quan tâm của Đảng
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng quan trọng nhằm phát triển hệ thống TGPL theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và dễ tiếp cận.
Nổi bật là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 đã đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, TGPL…”; “Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu: “Ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL, …”; “Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số”.

Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm TGPL tỉnh Sơn La tham gia bào chữa tại tòa án, ảnh: Cục PBGDPL và TGPL
Bước vào năm 2026, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, các thiết chế trong lĩnh vực TGPL”, đây là lần đầu tiên TGPL được giao nhiệm vụ tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,tiếp theo đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về “đổi mới mô hình phát triển Việt Nam” nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm phát triển TGPL ở cơ sở. Các chủ trương, định hướng đó đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để thể chế về TGPL không ngừng được hoàn thiện.
Thứ hai, thể chế về TGPL tiếp tục được hoàn thiện, tạo nền tảng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về TGPL gồm 23 văn bản: 02 Luật, 01 Nghị định, 05 Thông tư liên tịch và 15 Thông tư. Bên cạnh đó, nội dung về TGPL cũng được quy định trong các Bộ luật, Luật khác có liên quan (Như Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phòng, chống mua bán người…).
Dấu mốc nổi bật trong quá trình hoàn thiện thể chế năm 2026 là việc Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL ngày 23/4/2026. Luật đã thể chế hóa kịp thời các chủ trương, định hướng mới của Đảng, đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc qua thực tiễn thi hành Luật TGPL năm 2017.
Thứ ba, hoạt động TGPL ngày càng đi vào thực chất, lấy chất lượng và hiệu quả vụ việc làm trọng tâm, chú trọng thực hiện vụ việc TGPL tham gia tố tụng
Những năm gần đây, hoạt động TGPL có sự chuyển biến rõ nét theo hướng tập trung vào thực hiện vụ việc, nhất là vụ việc tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL. Giai đoạn từ năm 2018 đến hết năm 2025, các tổ chức thực hiện TGPL đã hoàn thành 266.821 vụ việc, gồm 168.044 vụ việc tham gia tố tụng, 96.457 vụ việc tư vấn pháp luật và 2.320 vụ việc đại diện ngoài tố tụng.
Kết quả này cho thấy hoạt động TGPL tiếp tục được duy trì ổn định, trong đó tham gia tố tụng vẫn là phương thức thực hiện chủ yếu, chiếm khoảng 63% tổng số vụ việc TGPL.
Thứ tư, chất lượng TGPL ngày càng được nâng cao, thể hiện rõ tính chuyên nghiệp
Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất lượng và hiệu quả vụ việc ngày càng được chú trọng và trở thành một trong những thước đo quan trọng của hoạt động TGPL. Việc đánh giá chất lượng, xác định và theo dõi vụ việc TGPL thành công được thực hiện thường xuyên (khoảng 90% vụ việc được đánh giá chất lượng tốt, khoảng 10% vụ việc được đánh giá chất lượng khá và đạt chất lượng, không có vụ việc nào không đạt chất lượng).

Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm TGPL thành phố Đồng Nai tham gia bào chữa cho người được TGPL tại tòa án. Ảnh Cục PBGDPL và TGPL
Từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2025, cả nước có 50.500 vụ việc tham gia tố tụng thành công. Qua thực tiễn đã có nhiều vụ việc trong đó ý kiến, lập luận của người thực hiện TGPL được cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận, mang lại kết quả tích cực cho người được TGPL, nhiều vụ việc TGPL được tuyên vô tội, chuyển tội danh, giảm hình phạt nhẹ hơn, thắng kiện, người thuộc diện TGPL bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình.
Những kết quả này cho thấy TGPL ngày càng đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật của người được TGPL, củng cố, mang lại niềm tin của người dân vào công lý, vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tính chuyên nghiệp của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý còn được thể hiện ngày càng rõ khi 87,26% số vụ việc tham gia tố tụng thành công là do trợ giúp viên pháp lý thực hiện, qua đó khẳng định ngày càng rõ vai trò của trợ giúp viên pháp lý là lực lượng nòng cốt, chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ TGPL của Nhà nước.
Phóng viên: Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt khi Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL. Theo ông, những điểm mới của Luật sẽ tạo ra chuyển biến như thế nào đối với công tác TGPL trong thời gian tới?
Cục trưởng Cù Thu Anh: Việc Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL kịp thời thể chế hoá Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và các Nghị quyết, chủ trương của Đảng về TGPL, là một dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế về TGPL, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tinh thần xuyên suốt của lần sửa đổi này là tiếp tục xây dựng hệ thống TGPL chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả, dễ tiếp cận, lấy người được TGPL làm trung tâm, trong đó tôi cho rằng có một số điểm mới sẽ tạo ra những chuyển biến, đột phá quan trọng trong thời gian tới.
Thứ nhất, mở rộng diện người được TGPL, điều kiện được TGPL, qua đó tăng khả năng tiếp cận công lý của các nhóm yếu thế, chính sách và những người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội. Mở rộng từ 07 thành 14 nhóm người thuộc diện được TGPL,Luật đã bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với một số nhóm đối tượng như cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật.
Mặt khác, Luật không quy định điều kiện “có khó khăn về tài chính” mà quy định trực tiếp: (i) người thuộc hộ cận nghèo; (ii) người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.
Ngoài ra, Luật bổ sung các đối tượng thuộc diện được TGPL là: Người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người nhằm thực hiện toàn diện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại; người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được TGPL trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này; cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được TGPL.
Với việc mở rộng người yếu thế, người thuộc diện chính sách, Việt Nam đã thuộc nhóm nước có diện người được TGPL miễn phí rộng nhất thế giới, thể hiện tính chất ưu việt, tốt đẹp của chế độ ta.
Thứ hai, luật hóa cơ chế trực TGPL tại Tòa án nhân dân, trong điều tra hình sự và cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, tạo điều kiện để người thuộc diện được TGPL được phát hiện và tiếp cận TGPL ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Các cơ chế này đã được triển khai trong thực tiễn và đã cho thấy hiệu quả trong việc kết nối người thuộc diện với tổ chức TGPL.
Việc quy định trực tiếp trong Luật đã nâng tầm các cơ chế đang vận hành hiệu quả thành những thiết chế có cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm thực hiện ổn định, thống nhất và lâu dài trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, quy định mới cũng tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa tổ chức thực hiện TGPL với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan có liên quan trong việc giải thích, thông báo, thông tin về nhu cầu được TGPL và bảo đảm thực hiện quyền được TGPL.
Thứ ba, tăng cường vai trò của chính quyền cơ sở, đưa TGPL đến gần người dân hơn. Luật bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc triển khai thực hiện công tác TGPL trên địa bàn. Quy định này kế thừa và nâng tầm hoạt động phối hợp đã được thực hiện trong thực tiễn. Cấp xã là cấp chính quyền gần dân, trực tiếp tiếp xúc, nắm bắt hoàn cảnh và nhu cầu của người dân, nhất là các nhóm yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn.
Luật quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến công dân, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu người thuộc diện đến Trung tâm TGPL nhà nước. Việc luật hoá trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong công tác TGPL sẽ tăng cường sự kết nối giữa người dân với Trung tâm, Chi nhánh, giúp kịp thời phát hiện nhu cầu, giới thiệu và hỗ trợ người thuộc diện tiếp cận dịch vụ TGPL ngay từ cơ sở.
Thứ tư, Luật tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước hình thành phương thức quản lý và cung cấp dịch vụ TGPL hiện đại. Luật bổ sung các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động TGPL, tạo nền tảng cho việc kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ số trong quản lý và tổ chức thực hiện TGPL.
Qua đó, người dân sẽ thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm thông tin, tiếp cận chính sách; cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện TGPL có điều kiện giảm thủ tục, khai thác dữ liệu thay cho việc yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin, giấy tờ đã có, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, theo dõi và đánh giá chất lượng hoạt động TGPL.
Phóng viên: Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã có Thư chúc mừng nhân dịp kỷ niệm 29 năm Ngày thành lập Hệ thống Trợ giúp pháp lý Việt Nam (06/9/1997-06/9/2026). Ông có chia sẻ gì về sự kiện này?
Cục trưởng Cù Thu Anh: Thư chúc mừng của đồng chí Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhân dịp kỷ niệm 29 năm Ngày thành lập Hệ thống TGPL Việt Nam là nguồn động viên, khích lệ đối với những người làm công tác TGPL trên cả nước. Đối với chúng tôi, sự quan tâm, ghi nhận của Bộ trưởng, Thường vụ Đảng uỷ Bộ Tư pháp không chỉ là niềm vui, niềm vinh dự mà còn cho thấy vị trí, vai trò và những đóng góp của công tác TGPL trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nghèo, người thuộc diện chính sách và các nhóm dễ bị tổn thương ngày càng được khẳng định. Đằng sau sự ghi nhận đó là công sức, tâm huyết và sự bền bỉ của nhiều thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người thực hiện TGPL trong suốt 29 năm qua.
Thực hiện cơ chế trực TGPL, như là trực 24/24 giờ trong điều tra hình sự, trợ giúp viên pháp lý, người thực hiện TGPL sẵn sàng lên đường đáp ứng nhu cầu TGPL mọi lúc, mọi nơi khi nhận được thông tin, thông báo từ cơ quan chức năng. Thực hiện cơ chế này, anh em TGPL có thể vất vả hơn, gian khổ hơn nhưng đổi lại người nghèo, người thuộc diện chính sách, người yếu thế sẽ được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp kịp thời, thuận lợi hơn, công lý sẽ đến gần hơn. Làm được như vậy, trợ giúp viên pháp lý đã xứng đáng với sự ghi nhận của Bộ trưởng trong thư chúc mừng “trở thành những chiến sĩ trên mặt trận tư pháp”.
Trân trọng cảm ơn ông!
