3 dấu mốc đặc biệt của phụ nữ Việt Nam 80 năm trước
Năm 1946, trong buổi đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ Việt Nam đi bầu đại biểu Quốc hội, tổ chức mang tên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức ra mắt, quyền bình đẳng nam nữ được ghi vào bản Hiến pháp đầu tiên. 80 năm sau, 3 dấu mốc ấy vẫn gợi mở những câu hỏi về cơ hội tham gia, trách nhiệm đại diện và việc thực hiện quyền bình đẳng trong đời sống.

Nhân dân Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa I, ngày 6/1/1946 - Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Từ nơi bỏ phiếu đến Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội rồi nghị trường, 3 sự kiện diễn ra trong chưa đầy một năm, đánh dấu bước chuyển trong vị thế của phụ nữ. Người phụ nữ có quyền lựa chọn người đại diện, có tổ chức tập hợp và bảo vệ quyền lợi, có nguyên tắc bình đẳng được xác lập trong Hiến pháp. Những quyền từng bị hạn chế bởi quan niệm "trọng nam, khinh nữ" nay được khẳng định trong nền tảng của nhà nước mới.
Những thành quả ấy được hình thành trong cuộc đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn với đóng góp của nhiều thế hệ phụ nữ. Độc lập dân tộc mở ra khả năng thay đổi địa vị của phụ nữ; sự tham gia của phụ nữ lại góp sức xây dựng và bảo vệ nền độc lập. Mối quan hệ ấy hiện lên rõ nét trong năm 1946.
Ngày 6/1/1946 - Từ lá phiếu đến nghị trường
Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức. Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, được thực hiện quyền bầu cử theo thể lệ đương thời. Lần đầu tiên, người dân trực tiếp lựa chọn đại biểu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Trong 333 đại biểu được Nhân dân bầu, có 10 đại biểu là nữ. Phụ nữ hiện diện trong đời sống chính trị với tư cách công dân và người đại diện cho Nhân dân.
Lá phiếu trao cho người phụ nữ quyền cân nhắc, gửi gắm niềm tin và lựa chọn người thay mình bàn việc nước. Trong một xã hội còn nhiều ràng buộc của quan niệm "trọng nam, khinh nữ", quyền ấy có ý nghĩa vượt ra ngoài một ngày bầu cử. Những vấn đề của đất nước trở thành công việc mà phụ nữ có quyền tham gia, có tiếng nói và có trách nhiệm đóng góp.
10 nữ đại biểu bước vào Quốc hội đầu tiên bằng sự tín nhiệm của cử tri. Có thể hình dung sự đa dạng của đội ngũ ấy qua những gương mặt như: Bà Nguyễn Thị Thục Viên, nhà giáo được bầu tại Hà Nội; bà Lê Thị Xuyến, đại biểu Quảng Nam; bà Ngô Thị Huệ, đại biểu Bạc Liêu. Mỗi người mang theo một nền tảng hoạt động, một trải nghiệm xã hội nhưng cùng đảm nhận trọng trách trong cơ quan đại diện của nước Việt Nam độc lập.
Bà Nguyễn Thị Thục Viên còn tham gia Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, được Quốc hội bầu tại Kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946. Sự có mặt của bà cho thấy phụ nữ đã trực tiếp góp phần xây dựng những nguyên tắc tổ chức nhà nước và quyền công dân. Từ lá phiếu của cử tri đến công việc soạn thảo Hiến pháp, quyền tham gia được thể hiện bằng trách nhiệm cụ thể trong buổi đầu độc lập.
Chặng đường 80 năm có thêm những dấu mốc đáng nhớ. Ngày 31/3/2016, bà Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ cương vị này. Kết quả bầu cử Quốc hội khóa XV năm 2021 ghi nhận 151 nữ đại biểu, chiếm 30,26%; đến cuộc bầu cử khóa XVI năm 2026, có 150 nữ đại biểu, chiếm 30%. Từ 10 người trong Quốc hội đầu tiên đến khoảng ba phần mười số đại biểu hôm nay, sự hiện diện của phụ nữ đã mở rộng rõ rệt, dù số lượng và tỷ lệ có biến động giữa các nhiệm kỳ.
Cùng với số lượng là khả năng đóng góp vào quyết định của Quốc hội. Khi nghiên cứu chính sách, tranh luận, giám sát hay chuyển tải kiến nghị của cử tri, mỗi nữ đại biểu đều đang thực hiện trách nhiệm đại diện của mình. Những trải nghiệm về lao động, chăm sóc gia đình, giáo dục và sinh kế có thể giúp nhận diện tác động của chính sách tới các nhóm người mà số liệu tổng hợp chưa phản ánh đầy đủ.
Ngày 20/10/1946 - Ra mắt tổ chức liên hiệp của các tầng lớp phụ nữ
Ngày 3/10/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký Nghị định cho phép thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Ngày 20/10/1946, Hội làm lễ ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Đoàn Phụ nữ Cứu quốc là tổ chức nòng cốt, hoạt động với tư cách một tổ chức thành viên của Hội.
Theo Biên niên lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, lễ ra mắt có đại diện phụ nữ thuộc nhiều dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, nghề nghiệp, từ trí thức, công nhân, nông dân đến tiểu thương, nữ sinh, dân quân tự vệ. Chính sự đa dạng ấy làm sáng rõ ý nghĩa của hai chữ "liên hiệp": Tập hợp rộng rãi phụ nữ yêu nước, cùng bảo vệ quyền lợi của chị em và góp sức giữ vững độc lập của Tổ quốc.
Trong một tổ chức liên hiệp, điểm chung tạo ra sự gắn kết, còn sự khác biệt đòi hỏi cách vận động phù hợp. Người có nghề nghiệp ổn định và người làm việc bấp bênh có thể cùng mong muốn một cuộc sống tốt hơn, nhưng cần những hỗ trợ khác nhau. Phụ nữ ở miền núi, ở thành thị, phụ nữ khuyết tật hay phụ nữ cao tuổi có những điều kiện tiếp cận thông tin và dịch vụ khác nhau. Sức mạnh tập hợp vì vậy phụ thuộc vào khả năng hiểu những khác biệt ấy. Một buổi sinh hoạt vào giờ hành chính có thể thuận tiện với người này nhưng khó tham gia với người khác. Thông báo trên nền tảng số có thể đến nhanh với nhiều người, nhưng khó đến được với người chưa sử dụng thành thạo điện thoại. Tính liên hiệp được thể hiện qua việc lựa chọn cách tiếp cận để những phụ nữ có điều kiện sống khác nhau đều có thể tham gia.
Thực hiện Kế hoạch số 41/KH-BTV ngày 28/8/2026 của Ban Thường vụ Trung ương Hội LHPN Việt Nam về tổ chức các hoạt động "Tháng nghe phụ nữ nói" trong hệ thống Hội, từ tháng 10/2026, "Tháng nghe phụ nữ nói" được tổ chức định kỳ hằng năm trong toàn hệ thống. Hoạt động hướng tới đưa tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ đến với cấp ủy, chính quyền, gắn tiếp nhận kiến nghị với chuyển xử lý và theo dõi kết quả. 80 năm trước là yêu cầu tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ; hôm nay, yêu cầu ấy đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để nghe được tiếng nói đa dạng của chính những tầng lớp phụ nữ đó?
Lắng nghe cần bắt đầu từ những câu hỏi gần gũi: Chị em đang gặp khó khăn gì, đã tìm tới đâu, điều gì còn vướng? Với vấn đề nhạy cảm, cần có cách trao đổi riêng tư; với người khó tham gia hội nghị, cần tìm hình thức tiếp cận thuận tiện. Những ý kiến ít xuất hiện trong cuộc họp đông người vẫn có thể là căn cứ quan trọng để phát hiện khoảng trống của chính sách.
Sau lắng nghe là trách nhiệm phản hồi. Kiến nghị thuộc thẩm quyền nào, đã chuyển tới đâu, kết quả ra sao, cần được thông tin cho người đề xuất. Những vấn đề lặp lại ở nhiều địa bàn cần được tổng hợp để tham mưu, giám sát hoặc đề xuất điều chỉnh chính sách. Khi tiếng nói của phụ nữ được theo dõi đến kết quả, sự gắn bó với tổ chức Hội có thêm một nền tảng bền vững từ niềm tin.
Ngày 9/11/1946 - Bình đẳng nam nữ đi vào Hiến pháp
Ngày 9/11/1946, Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Điều thứ 9 ghi: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Câu văn ngắn, trực tiếp, xác lập nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong nền tảng lập hiến của nước Việt Nam mới. Đằng sau quy định ấy là những ý kiến tranh luận ngay tại nghị trường về phạm vi quyền bình đẳng của phụ nữ.

Bản chụp Nghị quyết ngày 9/11/1946 ủy nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến pháp - Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Hiến pháp năm 1946, Chương II về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, Điều thứ 9 ghi: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện".
Nghị quyết ngày 9/11/1946 về thi hành Hiến pháp
Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, chiến tranh khiến Hiến pháp 1946 chưa được chính thức công bố.
Cùng ngày thông qua Hiến pháp, 9/11/1946, Quốc hội ban hành nghị quyết ủy nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến pháp. Bản chụp văn bản ghi:"Trong thời kỳ chưa thi hành được thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật".
Tư liệu này giúp phân biệt việc Quốc hội thông qua Hiến pháp với việc tổ chức thi hành trong hoàn cảnh chiến tranh.
Theo thông tin được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, khi thảo luận về dự thảo Hiến pháp, đã có ý kiến cho rằng phụ nữ không thể ngang quyền trong mọi phương diện được, có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ "mọi phương diện" trong Điều 9. Trước những ý kiến ấy, đại biểu Trương Thị Mỹ, đại biểu tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), đã lên tiếng phản bác. Theo nội dung đăng tải trên báo Thanh Niên, tham luận về "vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ", đại biểu Trương Thị Mỹ nói rằng, từ thực tế hoạt động và kinh nghiệm bản thân, bà khẳng định phụ nữ có khả năng đảm đương mọi công tác được giao. Bà cũng cho rằng cần khắc phục quan niệm coi thường phụ nữ và tâm lý tự ti, ngại khó ngay trong bản thân chị em.
Cuối cùng, Hiến pháp 1946 đã ghi nhận đầy đủ quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện".
Cụm từ "mọi phương diện" thể hiện phạm vi rộng của nguyên tắc bình đẳng. Học tập mở rộng lựa chọn nghề nghiệp; việc làm và thu nhập tạo điều kiện tự chủ; quyền tham gia giúp phụ nữ góp ý vào những quyết định tác động tới chính mình. Một rào cản ở lĩnh vực này có thể thu hẹp cơ hội ở lĩnh vực khác. Bởi vậy, tinh thần của Điều 9 Hiến pháp 1946 tiếp tục đặt ra yêu cầu tháo gỡ những rào cản trong đời sống. Quyền được ghi nhận còn cần điều kiện để thực hiện. Có quyền học nhưng thiếu thời gian, phương tiện hoặc sự hỗ trợ thì cơ hội vẫn khó trở thành hiện thực. Có năng lực làm việc nhưng phải gánh phần lớn công việc chăm sóc không được chia sẻ thì con đường phát triển có thể bị thu hẹp. Đọc lại Điều 9 cũng là nhìn vào khoảng cách giữa nguyên tắc bình đẳng và khả năng thực hiện quyền của phụ nữ.
3 dấu mốc: 6/1/1946, 20/10/1946 và 9/11/1946 ghi dấu bước chuyển trong vị thế của phụ nữ Việt Nam. 80 năm sau, những giá trị mà các dấu mốc lịch sử ấy khẳng định tiếp tục được hiện thực hóa qua việc mở rộng cơ hội để phụ nữ tham gia vào quá trình ra quyết định, tiếng nói của các tầng lớp phụ nữ được lắng nghe và quyền bình đẳng được bảo đảm bằng điều kiện thực tế. Nhìn lại lịch sử trong dịp 20/10 này cũng là để xác định rõ hơn trách nhiệm đối với phụ nữ hôm nay.
2 dấu mốc 1930 & 1946 đối với Hội LHPN Việt Nam
Từ ngày 14 - 31/10/1930, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất, Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về Phụ nữ vận động, trong đó đề ra nhiệm vụ phải tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ như "phụ nữ hiệp hội". Đồng thời Trung ương Đảng đã đề ra Điều lệ Phụ nữ Liên hiệp Hội. Với tính chất quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất tháng 10/1930 đã đánh dấu quá trình hình thành tổ chức Hội đầu tiên của phong trào phụ nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, với sự ra đời của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới, Đảng đã quyết định thành lập tổ chức Hội lấy tên là Hội LHPN Việt Nam với nòng cốt là Đoàn phụ nữ Cứu quốc, tập hợp đông đảo các tầng lớp phụ nữ trên mọi mặt lĩnh vực. Ngày 3/10/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Nghị định cho phép thành lập Hội LHPN Việt Nam. Ngày 20/10/1946, Hội LHPN Việt Nam làm lễ ra mắt tại Quảng trường Nhà hát Lớn, Hà Nội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1974) đã quyết định lấy ngày 20/10/1930 là ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam. Tại thông báo số 382-TB/TW ngày 15/10/2010 của BCH TƯ Đảng, Ban Bí thư đồng ý lấy ngày 20/10 hàng năm là ngày Phụ nữ Việt Nam.
