3 thành tố năng lực giúp giáo viên sử dụng hiệu quả tiếng Anh trong dạy học
Giáo viên cần năng lực sử dụng tiếng Anh, năng lực chuyên môn môn học và năng lực sư phạm để tổ chức dạy học thông qua tiếng Anh.

Trường Đại học Ngoại ngữ (Đại học Đà Nẵng) tập huấn giáo viên dạy một số môn học bằng tiếng Anh.
Trong Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026–2035, giai đoạn I (2026–2030), Dự án thành phần 4 tập trung phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục và người học trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo.
Một trong những nhiệm vụ được xác định trong Dự án là từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Theo đó, mục tiêu là 100% các trường đại học sư phạm trọng điểm có đủ năng lực triển khai đào tạo và bồi dưỡng giáo viên mầm non có năng lực triển khai các hoạt động cho trẻ làm quen với tiếng Anh, giáo viên phổ thông có năng lực giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh.
Đồng thời, xây dựng, ban hành khung chương trình, tài liệu và tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy một số môn học bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai cho khoảng 50.000 giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.
Xây dựng, ban hành 7 bộ chương trình, tài liệu bồi dưỡng về phát triển chương trình và tài liệu dạy một số môn bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai dành cho giảng viên đại học sư phạm; khoảng 1.000 giảng viên đại học sư phạm được bồi dưỡng về phát triển chương trình và thực hiện bồi dưỡng giáo viên mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên dạy một số môn học bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai.
Bảo đảm 3 thành tố trong chương trình bồi dưỡng
Trao đổi về về nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên dạy một số môn học bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, Tiến sĩ Nguyễn Bích Diệu, Phó trưởng khoa phụ trách Khoa Sư phạm Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngoại ngữ (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, cần nhìn nhận đây là một nhiệm vụ phát triển đội ngũ mang tính bền vững, đòi hỏi lộ trình phát triển năng lực theo từng nhóm giáo viên, dựa trên việc khảo sát năng lực và nhu cầu thực tế trước khi xây dựng chương trình.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Bích Diệu, chương trình bồi dưỡng nên được thiết kế theo hướng tích hợp ba thành tố: năng lực sử dụng tiếng Anh, năng lực chuyên môn môn học và năng lực sư phạm để tổ chức dạy học thông qua tiếng Anh.
Ba thành tố cần được phát triển gắn kết, bởi mục tiêu không chỉ là nâng cao trình độ tiếng Anh của giáo viên mà quan trọng hơn là giúp họ sử dụng ngôn ngữ này phù hợp, hiệu quả để hỗ trợ việc dạy và học nội dung môn học.
Tùy theo năng lực ban đầu, đặc thù môn học, cấp học và điều kiện của từng cơ sở giáo dục, có thể xây dựng các lộ trình bồi dưỡng và mức độ triển khai phù hợp.
Giáo viên có thể bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Anh có chọn lọc trong một số hoạt động dạy học, từng bước mở rộng phạm vi sử dụng và, khi đáp ứng các điều kiện cần thiết, triển khai hình thức dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) hoặc giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh (EMI).

Cần có cơ chế để các cơ sở triển khai chương trình bồi dưỡng được tham gia trọn vẹn, không chỉ ở khâu tổ chức các lớp bồi dưỡng.
Cách tiếp cận theo lộ trình như vậy vừa bảo đảm mục tiêu phát triển năng lực đội ngũ, vừa tạo điều kiện để việc triển khai phù hợp với thực tiễn của từng môn học và từng nhà trường.
Một chương trình hiệu quả, theo tiến sĩ Nguyễn Bích Diệu, cần có sự phối hợp giữa hai nhóm chuyên môn và ngoại ngữ.
Trong mô hình đó, những cơ sở có truyền thống lâu năm về đào tạo giáo viên ngoại ngữ như Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng đã và đang phát huy các thế mạnh trong đánh giá và phát triển năng lực ngoại ngữ, phương pháp giảng dạy ngôn ngữ, dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ, thiết kế chương trình bồi dưỡng, phát triển học liệu, đào tạo đội ngũ giáo viên cốt cán và nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chương trình.
Chuyển từ bồi dưỡng theo khóa học sang phát triển chuyên môn liên tục
Bên cạnh việc thiết kế chương trình phù hợp, Tiến sĩ Nguyễn Bích Diệu đề xuất chuyển dần từ mô hình bồi dưỡng theo khóa học sang phát triển chuyên môn liên tục. Sau giai đoạn học tập tập trung, giáo viên cần có thời gian áp dụng tại trường, được chuyên gia hỗ trợ, tham gia cộng đồng chuyên môn, dự giờ, nhận phản hồi, chia sẻ học liệu và tiếp tục điều chỉnh hoạt động giảng dạy.
Hiệu quả của chương trình vì vậy không nên chỉ được đánh giá bằng số người hoàn thành khóa học mà cần quan tâm đến khả năng vận dụng sau bồi dưỡng.
Cùng với đó, cần xây dựng đội ngũ giảng viên và giáo viên cốt cán. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào một số chuyên gia, có thể hình thành mạng lưới giáo viên và giảng viên nòng cốt tại các địa phương, sau đó tiếp tục hỗ trợ chuyên môn để đội ngũ này trở thành lực lượng phát triển chuyên môn tại chỗ.
Cuối cùng, Tiến sĩ Nguyễn Bích Diệu cho rằng cần có cơ chế để các cơ sở triển khai chương trình bồi dưỡng được tham gia trọn vẹn không chỉ ở khâu tổ chức các lớp bồi dưỡng mà còn từ khảo sát nhu cầu, xây dựng khung năng lực, thiết kế chương trình và học liệu, tổ chức thí điểm đến nghiên cứu, đánh giá và điều chỉnh chương trình. Khi đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu đánh giá được kết nối với nhau, các chương trình mới có điều kiện đáp ứng sát hơn nhu cầu thực tiễn.

