40-75% bệnh nhân mắc VIRUS NIPAH tử vong, Bộ Y tế khuyến cáo 5 biện pháp ứng phó
Bệnh do virus Nipah gây ra là bệnh truyền nhiễm nhóm A. Tỷ lệ chết/ mắc bệnh do virus Nipah ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%. Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt 5 biện pháp.

Tỷ lệ chết/ mắc bệnh do virus Nipah ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%
Cổng TTĐT Bộ Y tế cho biết đến ngày 26/1, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah - một bệnh truyền nhiễm nhóm A lây từ động vật sang người hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus với tỷ lệ chết/ mắc ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%.
Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế cho hay theo thông tin từ hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 27/12/2025 đến ngày 26/01/2026, Ấn Độ ghi nhận 05 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah (trong đó có 02 trường hợp có xét nghiệm khẳng định) tại một bệnh viện ở Tây Bengal.
Vius Nipah được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1999 tại Malaysia. Đến năm 2001, bệnh do virus Nipah được ghi nhận đầu tiên trên người tại Bangladesh và sau đó ghi nhận tại Ấn Độ.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh do virus Nipah ghi nhận rải rác ca bệnh ở phạm vi nhỏ tại một số quốc gia, chưa tạo thành các ổ dịch lớn. Tỷ lệ chết/ mắc bệnh do virus Nipah gây ra ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%.

Tỷ lệ chết/ mắc bệnh do virus Nipah gây ra ở các trường hợp nhập viện khoảng 40-75%.
Bệnh do virus Nipah gây ra là bệnh truyền nhiễm nhóm A; chưa có vaccine và thuốc điều trị đặc hiệu
Hiện bệnh chưa có vaccine và thuốc điều trị đặc hiệu bệnh do virus Nipah gây ra cho cả người và động vật.
Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A (theo quyết định số 3644/QĐ-BYT ngày 25/11/2025 về việc bổ sung một số bệnh vào danh mục bệnh truyền nhiễm nhóm A, B của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm).
Virus Nipah lây truyền chủ yếu từ động vật sang người (tại Ấn Độ hiện nay truyền qua loài dơi ăn quả), hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân).
Thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm virus có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính.
Sẵn sàng các biện pháp đáp ứng, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah gây ra
Đến ngày 26/01/2026, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah. Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh ngay từ các cửa khẩu, cơ sở y tế và cộng đồng, sẵn sàng các biện pháp đáp ứng, phòng chống dịch.
Bộ Y tế khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phối hợp với WHO, các quốc gia trên thế giới để kịp thời chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp, hiệu quả.
Bộ Y tế khuyến cáo người dân chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah gây ra
Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:
1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết.
2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: Đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế.
3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: Thực hiện "Ăn chín, uống sôi", rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến).
4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật.
5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

Virus Nipah - cơ chế gây bệnh và các biện pháp phòng ngừa
Trên báo Sức khỏe và Đời sống, TS. BS. Nguyễn Hữu Châu Đức cho biết Virus Nipah là một virus nguy hiểm hiếm gặp, có thể gây viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong cao nếu không được phát hiện và chăm sóc kịp thời.
Nguồn lây của virus Nipah
- Ổ chứa tự nhiên của virus Nipah là dơi ăn quả
- Virus có thể lây sang người:
- Qua thực phẩm hoặc đồ uống nhiễm virus
- Qua tiếp xúc gần với người bệnh (dịch tiết hô hấp)
Vì vậy, Nipah không chỉ là bệnh từ động vật, mà có thể lây từ người sang người.
Cơ chế gây bệnh của virus Nipah
Sau khi xâm nhập cơ thể qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa, virus Nipah sẽ:
- Tấn công mạch máu và tế bào nội mô
- Gây viêm mạch hệ thống và vi huyết khối
- Tổn thương nặng ở:
+ Não dẫn đến viêm não
+ Phổi dẫn đến viêm phổi, phù phổi
Đây là lý do bệnh có thể diễn tiến nhanh và nặng.
Thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày.

Các dấu hiệu cần đi khám ngay
- Sốt cao, đau đầu nhiều
- Ho, khó thở
- Buồn ngủ bất thường, rối loạn ý thức
- Co giật hoặc thay đổi hành vi
- Không chờ đợi khi có triệu chứng thần kinh hoặc hô hấp nặng.
Phòng bệnh do virus Nipah
- Không ăn trái cây bị dơi cắn
- Không uống nhựa cây hoặc nước ép không đảm bảo vệ sinh
- Hạn chế tiếp xúc gần với người nghi nhiễm
- Thực hành vệ sinh tay – đeo khẩu trang khi cần thiết
- Do chưa có vaccine đặc hiệu để phòng ngừa virus Nipah nên phòng bệnh là yếu tố quan trọng nhất.

Lực lượng kiểm dịch TPHCM thường xuyên giám sát hành khách đến từ vùng có dịch do virus Nipah gây ra.
Tăng cường giám sát tại các cửa khẩu quốc tế để phòng chống bệnh Nipah
Trước thông tin một số quốc gia ghi nhận ca mắc bệnh do virus Nipah (NiV), Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TPHCM (HCDC) cho biết đang theo dõi chặt chẽ tình hình dịch tễ toàn cầu và chủ động các biện pháp phòng, chống ngay từ sớm nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Theo HCDC, NiV đang lây lan tại Ấn Độ và bệnh chưa ghi nhận tại Việt Nam. Hiện ngành y tế thành phố đang tiếp tục tổ chức giám sát các trường hợp đi về từ vùng dịch.
Cụ thể, tăng cường giám sát người nhập cảnh tại các cửa khẩu quốc tế để phát hiện sớm các trường hợp sốt hoặc có dấu hiệu nghi ngờ bệnh truyền nhiễm nguy hiểm để cách ly, xử trí kịp thời ngay tại cửa khẩu, trong đó có tăng cường giám sát người nhập cảnh từ các vùng đang bùng phát dịch.
Hành khách đi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh như: sốt, nhức đầu từ 3-14 ngày cùng với các dấu hiệu hô hấp (ho, đau họng và khó thở) cần liên hệ ngay với cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị kịp thời.











