40 năm Đảng lãnh đạo nền đối ngoại Việt Nam - Bài 1: Ý nghĩa và những dấu ấn lịch sử của đổi mới tư duy đối ngoại
LTS: Trải qua 40 năm đổi mới toàn diện đất nước (1986-2026), dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp đối ngoại Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trụ cột quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và phát triển đất nước. Nhân dịp này, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu vệt bài tổng kết thực tiễn 4 thập kỷ Đảng ta đổi mới tư duy, lãnh đạo xây dựng nền ngoại giao hiện đại, toàn diện với 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời gợi mở những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
40 năm tiến hành công cuộc đổi mới cũng là 40 năm Đảng lãnh đạo đất nước ta từng bước đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong phát triển tư duy lý luận và thực tiễn triển khai công tác đối ngoại. Đổi mới tư duy đối ngoại, đánh giá đúng cục diện và xu thế vận động của thế giới giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn mối quan hệ giữa an ninh và phát triển trong tình hình mới, chủ động tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, đồng thời khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm ký Tuyên bố kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN ngày 28-7-1995. Ảnh: TTXVN
Đổi mới tư duy đối ngoại từ yêu cầu phát triển của đất nước
Nhìn lại thời điểm tháng 12-1986, trước thềm Đại hội VI của Đảng, đất nước ta phải đối mặt với những khó khăn chồng chất cả về đối nội và đối ngoại. Việt Nam khi đó là một nước nghèo, hậu quả chiến tranh để lại hết sức nặng nề, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Giai đoạn 1975-1985, thu nhập bình quân đầu người chỉ dao động từ 125 đến 200USD/năm, xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới; lạm phát vào thời điểm tháng 12-1986 lên tới 774,7%. Những con số thống kê khô khan ấy phản ánh rõ cuộc sống vô cùng vất vả của nhân dân khi đồng tiền mất giá, hàng hóa khan hiếm, đời sống bị bào mòn từng ngày. Đây cũng là môi trường để các thế lực phản động, thù địch gia tăng hoạt động chống phá, xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Về đối ngoại, dù đất nước đã thống nhất, song trên thực tế Việt Nam vẫn chưa thực sự thoát khỏi trạng thái thời chiến. Một lực lượng lớn Quân tình nguyện Việt Nam đang thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả tại Campuchia, góp phần giúp nhân dân nước bạn hồi sinh sau thảm họa diệt chủng do chế độ Pol Pot gây ra. Một lực lượng lớn khác của Quân đội phải thường xuyên cơ động, sẵn sàng bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Trên bình diện quốc tế, thế giới lúc bấy giờ bị chi phối mạnh mẽ bởi cục diện hai cực, hai phe đối lập. Trong bối cảnh đó, Việt Nam còn phải chịu lệnh cấm vận toàn diện về kinh tế, thương mại của Hoa Kỳ từ năm 1975, cùng sự bao vây, cô lập của các thế lực thù địch, khiến nền kinh tế rơi vào thế khó, hạn chế nghiêm trọng khả năng tiếp cận thị trường, vốn và khoa học-công nghệ từ bên ngoài.

Lễ kéo cờ Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei, ngày 28-7-1995. Ảnh: TTXVN
Trước thực tiễn đó, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tinh thần cách mạng khoa học, dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật. Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng trong chủ trương, chính sách lớn, trong chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện; đặc biệt là bệnh chủ quan, duy ý chí, sự lạc hậu trong nhận thức lý luận và những hạn chế trong việc vận dụng các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trên cơ sở đó, một tầm nhìn chiến lược mới được hình thành, mở ra bước ngoặt lịch sử trong tư duy phát triển đất nước nói chung và tư duy đối ngoại nói riêng.
Đảng ta xác định rõ yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế, khu vực và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Tư duy mới ấy nhanh chóng được thể chế hóa bằng những quyết sách quan trọng. Tháng 12-1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành. Tháng 5-1988, Bộ Chính trị khóa VI ra Nghị quyết số 13/NQ-TW về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và nêu rõ lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là củng cố, giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế; đồng thời yêu cầu chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại, hình thành quan điểm mới về an ninh và phát triển, ưu tiên cao nhất cho hòa bình, hợp tác và phát triển.

Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và Tổng thư ký ASEAN Dato Ajit Singh (ngoài cùng, bên phải) chúc mừng Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN, tháng 7-1995. Ảnh: TTXVN
Từ phá thế bao vây, cấm vận đến khẳng định vị thế và uy tín quốc tế
Song hành với đổi mới mô hình kinh tế, đường lối đối ngoại của Việt Nam từng bước trở nên linh hoạt, chủ động và thực chất hơn. Những quan điểm như “thêm bạn, bớt thù”; đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trở thành những thông điệp nhất quán, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Đặc biệt, khái niệm “Đổi mới” khi được chuyển ngữ ra tiếng nước ngoài vẫn được nhiều quốc gia giữ nguyên, như một minh chứng cho dấu ấn riêng biệt, giàu bản sắc và trí tuệ của đường lối đổi mới Việt Nam.
Những dấu mốc quan trọng của đổi mới tư duy đối ngoại được thể hiện rõ qua việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1990, với Hoa Kỳ năm 1995 và gia nhập ASEAN cũng trong năm 1995, qua đó từng bước phá thế bao vây, cấm vận, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế. Từ một quốc gia bị cô lập, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ; thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới và 17 trong số 20 nền kinh tế lớn nhất toàn cầu.

Quốc kỳ Việt Nam được đội tiêu binh Brunei long trọng rước qua các vị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và đại biểu tham dự Lễ kéo cờ Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei, ngày 28-7-1995. Ảnh: TTXVN
Cùng với đó, đối ngoại Đảng không ngừng được mở rộng với quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và 253 chính đảng ở 115 quốc gia, bao gồm nhiều đảng cầm quyền, đảng tham gia liên minh cầm quyền và các đảng cộng sản. Quốc hội Việt Nam duy trì quan hệ với nghị viện của hơn 140 quốc gia. Đối ngoại nhân dân được triển khai ngày càng sâu rộng, thiết thực thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và tổ chức nhân dân với hơn 1.200 tổ chức, đối tác nước ngoài. Đối ngoại quốc phòng, an ninh và đối ngoại chuyên ngành ngày càng phát triển, đóng góp quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nếu trước đây, khi nhắc tới Việt Nam, nhiều người thường nghĩ đến chiến tranh, thì ngày nay Việt Nam được biết đến như một biểu tượng của hòa bình, hợp tác và phát triển. Sau 4 thập kỷ đổi mới, từ một nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng. Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định và được Đại hội XIII của Đảng thông qua, rằng với tất cả sự khiêm tốn, có thể nói đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó là kết tinh của tư duy đổi mới đúng đắn, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, cùng sự nỗ lực bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Trên nền tảng thế và lực mới, Đảng ta tiếp tục đặt ra những mục tiêu phát triển cao hơn, dài hạn hơn. Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV xác định rõ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; thực hiện tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc; phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Quốc kỳ Việt Nam phấp phới bay cùng cờ của các nước ASEAN tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei, ngày 28-7-1995. Ảnh: TTXVN
Khát vọng phát triển cao hơn cũng đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với công tác đối ngoại trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp. Tiếp nối những thành công của công cuộc đổi mới, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 16-9-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ hội nhập quốc tế là động lực chiến lược, trong đó nội lực giữ vai trò quyết định, ngoại lực là nguồn lực quan trọng; gắn kết chặt chẽ hội nhập với bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; chuyển từ tư duy tiếp nhận sang tư duy đóng góp, từ hội nhập chung sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái vươn lên, tiên phong trong những lĩnh vực mới.
Kim chỉ nam và yêu cầu đối với đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới đã rõ. Với nền ngoại giao trưởng thành, hiện đại, toàn diện trên 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, Việt Nam có đầy đủ cơ sở, niềm tin và quyết tâm để tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững đất nước trong những thập niên tới.
(còn nữa)














