40 năm Đảng lãnh đạo nền đối ngoại Việt Nam - Bài 5: Đối ngoại quốc phòng - trụ cột quan trọng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Tiếp theo và hết)
Đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) là biểu hiện sinh động của sự phát triển tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc (BVTQ), góp phần quan trọng vào thành tựu chung trong 40 năm đổi mới. ĐNQP vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đồng thời xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trong khu vực và thế giới, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột. Trong 40 năm qua, ĐNQP kiên quyết, kiên trì triển khai nhiệm vụ trên cơ sở giữ vững và tuân thủ luật pháp quốc tế; thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng chiến lược; BVTQ từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy.
Bộ phận đặc thù của đối ngoại Đảng và Nhà nước
Đối ngoại không chỉ là công việc của các nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Trên mặt trận này, những “nhà ngoại giao mặc quân phục” cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần khẳng định ĐNQP là bộ phận đặc thù và là một trụ cột quan trọng của ngoại giao Nhà nước, đồng thời gắn bó chặt chẽ với đối ngoại Đảng trong tổng thể đường lối đối ngoại của đất nước.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các đại biểu tham quan Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024, ngày 19-12-2024 tại Hà Nội. Ảnh: NGỌC HƯNG
ĐNQP phát triển cùng quá trình đổi mới tư duy của Đảng ta về BVTQ trong sự nghiệp đổi mới. Khi Nghị quyết số 13/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa VI (năm 1988) khẳng định lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế, các mục tiêu của ĐNQP cũng dần được định hình theo từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đặc biệt, quan điểm của Đảng về đối tác-đối tượng, về hợp tác-đấu tranh và mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt này được nêu trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về Chiến lược BVTQ trong tình hình mới, tiếp tục được bổ sung, phát triển, cụ thể hóa tại Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội XII và Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng Việt Nam trở thành nền tảng và cơ sở lý luận lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quốc phòng, BVTQ trong tình hình mới.
Nghị quyết số 24-NQ/TW xác định: Lấy ĐNQP làm công cụ quan trọng để giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực; đồng thời đề ra các nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo thực hiện công tác ĐNQP theo hướng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. ĐNQP góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam; ngăn ngừa nguy cơ, vượt qua thử thách.
Từ mục tiêu xây dựng lòng tin chiến lược, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ chủ quyền, ứng phó các mối đe dọa và gìn giữ môi trường hòa bình, ĐNQP ngày càng khẳng định vai trò là bộ phận đặc thù, trực tiếp bảo vệ những lợi ích an ninh cốt lõi. Đây là lĩnh vực sử dụng công cụ, thế mạnh quốc phòng để tạo ảnh hưởng tích cực tới cục diện an ninh khu vực và thế giới, hỗ trợ đắc lực cho đối ngoại Đảng và Nhà nước trong chiến lược BVTQ. Trong hợp tác có đấu tranh, trong đấu tranh có hợp tác, ĐNQP chủ động lồng ghép các yếu tố ngoại giao văn hóa, chính trị, tạo hiệu quả ngày càng thực chất.
Kiến tạo môi trường hòa bình, củng cố tiềm lực quốc phòng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên và trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, những năm qua, ĐNQP đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột; BVTQ từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy.
ĐNQP được triển khai đồng bộ, có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nâng tầm cùng thế và lực của đất nước, ĐNQP góp phần minh bạch hóa đường lối quốc phòng của Việt Nam. Với 4 Sách trắng quốc phòng được công bố (năm 1998: Việt Nam củng cố quốc phòng BVTQ; năm 2004: Quốc phòng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI; năm 2009: Quốc phòng Việt Nam 2009; và năm 2019: Quốc phòng Việt Nam 2019), Việt Nam cung cấp thông tin rõ ràng về chính sách quốc phòng, nhấn mạnh nền quốc phòng mang tính hòa bình, tự vệ, nhưng luôn tăng cường sức mạnh để BVTQ; đồng thời đề cao tăng cường hợp tác quốc phòng, quân sự phù hợp với luật pháp quốc tế nhằm nâng cao năng lực tự vệ.
Cùng với đó, chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam, gồm: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế ngày càng được bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn và trở thành những nguyên tắc cốt lõi, góp phần củng cố niềm tin chiến lược với các quốc gia.
Trên bình diện song phương, ĐNQP đóng góp quan trọng vào tăng cường quan hệ hợp tác với các nước láng giềng. Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với Trung Quốc, Lào và Campuchia từng bước được nâng cấp, mở rộng quy mô, trở thành hoạt động thường niên, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và thúc đẩy giải quyết những vấn đề biên giới, lãnh thổ còn tồn tại. Các hoạt động tuần tra chung trên biển với hải quân hoặc lực lượng thực thi pháp luật của các nước láng giềng cũng góp phần xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định.
ĐNQP đồng thời góp phần xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, giữ vững cân bằng chiến lược. Việt Nam tăng cường quan hệ, hợp tác với Trung Quốc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình; duy trì và thúc đẩy hợp tác quốc phòng với Mỹ và các nước lớn khác, tranh thủ nguồn lực và khoa học, công nghệ trong khắc phục hậu quả chiến tranh, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp quốc phòng, qua đó nâng cao tiềm lực quốc phòng của đất nước.
Chỉ riêng về khắc phục hậu quả chiến tranh, trong 5 năm gần đây, đã có 21 dự án được triển khai hiệu quả, gồm 11 dự án hợp tác quốc tế. Theo đó, gần 188.000ha đất đã được rà phá bom mìn, vật nổ; diện tích ô nhiễm bom mìn giảm còn 5,57 triệu héc-ta. Khoảng 41ha đất nhiễm chất độc dioxin tại khu vực sân bay Biên Hòa, sân bay A So và khoảng 1.100 tấn chất độc CS cùng sản phẩm thủy phân chất độc CS trên địa bàn các quân khu 4, 5, 7, 9 đã được xử lý. Có khoảng 65.000 nạn nhân được chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ y tế trong chương trình hợp tác với Mỹ tại các tỉnh bị phun rải nặng chất da cam trong chiến tranh.
Trên bình diện đa phương, ĐNQP chuyển mạnh từ tham gia sang tích cực, chủ động đề xuất sáng kiến, góp phần xây dựng thể chế hợp tác, phù hợp với tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 8-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030. Bộ Quốc phòng Việt Nam tích cực, chủ động tham gia có hiệu quả vào các cơ chế hợp tác đa phương trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nhất là Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh do ASEAN giữ vai trò trung tâm. Hợp tác huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn được đẩy mạnh; năng lực lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được nâng cao. Từ hai sĩ quan đầu tiên tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc năm 2014, đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt cán bộ, nhân viên tham gia nhiệm vụ tại 3 phái bộ và trụ sở Liên hợp quốc. Những đóng góp của Bộ đội Cụ Hồ luôn được Liên hợp quốc, bạn bè quốc tế, chính quyền và nhân dân sở tại đánh giá cao. Đây là điểm sáng, hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng ta xác định: Tham gia bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.
Nâng cao vị thế và uy tín, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Trong chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta giương cao ngọn cờ “Quyết chiến, quyết thắng”, viết nên những trang sử chói sáng, thống nhất non sông. Trong thời bình, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là đặc trưng của ĐNQP là xây dựng, củng cố lòng tin giữa các nước, giữ cân bằng chiến lược. Trên nền tảng đó, ĐNQP tiếp tục tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, mở rộng không gian phát triển cho đất nước.
ĐNQP phối hợp chặt chẽ với các hoạt động đối ngoại khác, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý linh hoạt, mềm dẻo, hiệu quả trong quan hệ quốc tế về quốc phòng, an ninh; triển khai các kế sách, giải pháp ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột; góp phần giải quyết các vấn đề biên giới, biển, đảo. Sự lãnh đạo của Đảng là nguồn sức mạnh tạo thế và lực cho công tác đối ngoại nói chung và ĐNQP nói riêng. Với đường lối, chủ trương, chính sách nhất quán, vừa kiên quyết, kiên trì, vừa hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, thể hiện tập trung ở nguyên tắc “4 không”, Việt Nam củng cố ngày càng vững chắc sự tin cậy của các nước và các tổ chức quốc tế. Mục tiêu BVTQ do Đảng xác định là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt và ĐNQP đã kiên định giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh; tích cực tham gia cùng cộng đồng quốc tế giải quyết các vấn đề toàn cầu; là thành viên uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế. ĐNQP đóng góp thiết thực vào những thành quả đó, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam, BVTQ từ sớm, từ xa.
Suốt chặng đường 40 năm đổi mới, Đảng lãnh đạo nền đối ngoại Việt Nam, có thể thấy "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt là tư duy độc lập, tự chủ, hòa hiếu nhưng kiên định nguyên tắc; chủ động hội nhập nhưng giữ vững lợi ích quốc gia-dân tộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị với 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong đó ĐNQP là điểm tựa quan trọng trên phương diện an ninh, chiến lược. Bước vào giai đoạn phát triển mới, khi cơ hội và thách thức đan xen, những thành tựu và kinh nghiệm của 4 thập kỷ đổi mới tiếp tục là nền tảng để nền ngoại giao Việt Nam, trong đó có ĐNQP, phát huy bản lĩnh “kiên quyết, kiên trì”, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.












