40 năm kiến tạo chặng đường mới
40 năm kể từ Đại hội VI của Đảng (1986), công cuộc đổi mới đã tạo nên những chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Với Tuyên Quang, đó cũng là hành trình từ một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn từng bước vươn lên, phát huy tiềm năng, huy động nguồn lực, thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Từ những nền tảng được tạo dựng qua 40 năm, Tuyên Quang hôm nay bước vào không gian phát triển mới sau hợp nhất, đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy, phương thức quản trị và cách thức khai thác nguồn lực để tạo những động lực phát triển mới.

Nhìn lại điểm xuất phát và yêu cầu đổi mới
Những năm đầu đất nước bước vào công cuộc đổi mới, Tuyên Quang (trước đây là Hà Tuyên) đứng trước một bài toán không dễ có lời giải. Đó là một địa bàn miền núi rộng lớn, địa hình chia cắt, dân cư phân bố không đồng đều, điều kiện sản xuất và kết cấu hạ tầng còn nhiều hạn chế. Sau chiến tranh, nguồn lực vốn đã ít ỏi lại phải dành đáng kể cho nhiệm vụ bảo vệ biên giới, xây dựng phòng tuyến, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu. Những khó khăn chung của nền kinh tế đất nước vì thế càng in đậm trên mảnh đất vùng cao này.
Trong ký ức của những người từng trực tiếp lãnh đạo, điều hành địa phương, cái khó của những năm ấy không phải là những khái niệm trừu tượng, mà hiện diện trong từng bữa ăn, con đường, công trình và nhịp sống của người dân. Trước đổi mới, toàn tỉnh khi đó chỉ có hơn 2.000 ha đất canh tác hai vụ, sản lượng lương thực mới đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, phần còn lại phải trông chờ vào trợ cấp.
Sự cách trở của địa hình lại nhân lên những hạn chế về giao thông. Đường sá chủ yếu là đường đất, đường cấp phối. Điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất hạn chế, nhiều nơi phải dựa vào máy phát điện. Ngay cả một công trình giao thông quan trọng như cầu Nông Tiến cũng phải mất nhiều năm mới có thể hoàn thành.
Đồng chí Ngụy Văn Thận, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy cho rằng: Đại hội VI của Đảng tháng 12-1986 mở ra bước ngoặt trong tư duy phát triển của đất nước. Trước yêu cầu phải đưa nền kinh tế ra khỏi khó khăn, Đại hội xác định đổi mới phải bắt đầu từ việc giải phóng sức sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát huy các nguồn lực và từng bước hình thành một nền kinh tế hàng hóa có nhiều thành phần. Cùng với đó là đặt mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống Nhân dân; tập trung thực hiện ba chương trình lớn về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Những gì trước đây chưa được khai thác đầy đủ đất đai, lao động, các thành phần kinh tế, khả năng sản xuất của người dân được nhìn nhận như những nguồn lực cần được giải phóng. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp từng bước được xóa bỏ, chuyển sang cơ chế quản lý phù hợp hơn với quy luật khách quan, tạo động lực cho các đơn vị sản xuất nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Đối với một tỉnh miền núi có điểm xuất phát thấp như Tuyên Quang, tinh thần đổi mới ấy tác động trực tiếp đến cách lựa chọn những việc cần làm. Thay vì trông chờ vào nguồn lực sẵn có của Nhà nước, bài toán đặt ra là phải khơi thông những nguồn lực ngay từ cơ sở, tháo gỡ những điểm nghẽn đang kìm hãm sản xuất và đời sống.
Đổi mới tư duy
Từ đó, những chủ trương của tỉnh dần được hình thành theo hướng việc gì dân cần nhất thì tập trung giải quyết trước, nguồn lực nào có thể huy động thì huy động, Nhà nước và Nhân dân cùng tham gia.
Phong trào “Mái nhà, bể nước, con bò” từ đầu năm 2000 là một cách cụ thể hóa tư duy lấy đời sống người dân làm điểm xuất phát. Xóa nhà tạm, hỗ trợ nước sạch, trao con giống, nhất là bò sinh kế, đã tạo cho các hộ nghèo những điều kiện căn bản để ổn định cuộc sống và có tư liệu sản xuất.
Khi giao thông là điểm nghẽn căn bản, tỉnh không chỉ trông vào ngân sách mà khơi dậy phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”. Từ những chủ trương có tính nền móng đó, mạng lưới giao thông từng bước được mở rộng, đường nông thôn được bê tông hóa; các tuyến quốc lộ 279, 2C, 37… và sau này là các tuyến cao tốc đã tạo ra sự thay đổi căn bản về khả năng kết nối của tỉnh. Từ một điểm nghẽn, giao thông trở thành nền tảng mở rộng không gian phát triển.
Việc đưa cán bộ tăng cường xuống địa bàn, bám bản, phát hiện và bồi dưỡng quần chúng ưu tú, từng bước xóa các thôn bản “trắng đảng viên”, “trắng chi bộ”. Đó là cách xây dựng “hạt nhân” lãnh đạo ngay từ cơ sở, củng cố niềm tin của Nhân dân và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị.

Điểm giao Quốc lộ 37 trên tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đã thi công xong.
Khi những nhu cầu căn bản từng bước được giải quyết, Tuyên Quang tiếp tục điều chỉnh tư duy phát triển. Nông nghiệp không còn chỉ nhằm bảo đảm lương thực mà chuyển dần sang sản xuất hàng hóa; hình thành các vùng sản xuất tập trung, phát triển kinh tế lâm nghiệp, xây dựng sản phẩm đặc trưng và OCOP. Đến giữa năm 2026, toàn tỉnh đã có hơn 118 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản và 454 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 60%, kinh tế lâm nghiệp trở thành một lợi thế nổi bật.
Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tuyên Quang đã có bước chuyển căn bản trên hầu hết các lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng giao thông được mở rộng, đường nông thôn từng bước được bê tông hóa, mạng lưới điện vươn tới các bản làng, giáo dục, y tế, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và an sinh xã hội có nhiều chuyển biến. Tư duy phát triển kinh tế cũng có bước chuyển rõ nét, từ sản xuất chủ yếu để bảo đảm lương thực sang phát triển nông nghiệp hàng hóa, kinh tế lâm nghiệp, sản phẩm đặc trưng và các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ. Công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Quan trọng hơn, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân từng bước được nâng lên, hệ thống chính trị và tổ chức đảng ở cơ sở được củng cố.
Động lực phát triển mới
Nhìn lại 40 năm đổi mới, những bài học được đúc kết từ thực tiễn càng có ý nghĩa đối với Tuyên Quang trong chặng đường phát triển mới. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá, toàn diện, bền vững, có thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành tỉnh phát triển, có thu nhập cao trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ. Đây là mục tiêu lớn, trong khi Tuyên Quang vẫn là tỉnh miền núi, xuất phát điểm và điều kiện phát triển còn những hạn chế nhất định. Vì vậy, để rút ngắn khoảng cách, tỉnh phải có quyết tâm lớn, cách làm mới và những giải pháp mang tính đột phá.
Sau sáp nhập, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng. Bộ máy mới phải thực sự gần dân, sát cơ sở, rõ trách nhiệm, giảm tầng nấc trung gian, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây không chỉ là yêu cầu về tổ chức bộ máy mà còn là cơ hội đổi mới phương thức quản trị, tạo môi trường thuận lợi hơn cho đầu tư và phát triển.
Cùng với cơ cấu lại nền kinh tế, tỉnh cần phát huy các ngành có lợi thế, nâng cao giá trị sản phẩm, sức cạnh tranh và hình thành các chuỗi liên kết. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực tăng trưởng mới. Đồng thời, phát triển văn hóa, con người, nâng cao đời sống Nhân dân, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng; xây dựng chính quyền 2 cấp hiệu lực, hiệu quả, giữ vững quốc phòng, an ninh và mở rộng liên kết, đối ngoại.
Trong nhiệm kỳ mới, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Tuyên Quang phải tập trung cụ thể hóa, tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị, nhất là những chủ trương liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Trọng tâm là biến chủ trương thành các chương trình, dự án cụ thể, lựa chọn đúng những động lực tăng trưởng có khả năng tạo sức lan tỏa trên không gian mới.
Cùng với đó, chuyển đổi số phải trở thành phương thức phát triển, không dừng ở ứng dụng công nghệ trong quản lý. Tỉnh cần đẩy mạnh chính quyền số, phát triển kinh tế số, xã hội số; đưa dữ liệu trở thành nguồn lực, công nghệ trở thành công cụ nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Đây sẽ là một trong những chìa khóa để Tuyên Quang vượt qua hạn chế về địa hình, khoảng cách và từng bước tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Bài, ảnh: Thanh Phúc
Lấy hạnh phúc Nhân dân làm thước đo

Đồng chí Nguyễn Trần Bắc Nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hà Giang
Nhìn lại chặng đường lịch sử, có những bài học đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Trước hết, cán bộ phải thực sự bám sát cơ sở, gần dân và thấu hiểu lòng dân. Một chủ trương dù đúng đắn đến đâu nhưng nếu xa thực tế, không sát với đời sống nhân dân thì khó đi vào cuộc sống. Vì vậy, cán bộ phải xuống cơ sở, trực tiếp nghe dân nói, hiểu dân cần gì, nắm được những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn để đề ra chủ trương phù hợp và tổ chức thực hiện hiệu quả.
Một bài học khác là phải lấy lợi ích thiết thực của nhân dân làm thước đo hiệu quả lãnh đạo. Mọi quyết sách phải hướng đến những vấn đề cụ thể trong cuộc sống, từ cái ăn, cái mặc, nước sạch, đường giao thông đến nhà ở, việc làm và sinh kế. Khi những nhu cầu thiết thực của người dân được quan tâm, giải quyết, người dân sẽ cảm nhận rõ hiệu quả của chủ trương, chính sách và từ đó củng cố niềm tin đối với Đảng, chính quyền.
Theo tôi, chủ trương phải xuất phát từ thực tiễn, quyết sách phải hướng đến nhân dân và hiệu quả lãnh đạo phải được thể hiện bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống nhân dân.
Đổi mới từ cơ sở

Đồng chí Hoàng Trọng Khoắn Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Tiên Yên
Thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu đối với cấp xã ngày càng toàn diện, trực tiếp. Để công việc không chồng chéo, bỏ sót, trước hết phải phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Người đứng đầu phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, không để công việc tồn đọng hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Công tác tiếp công dân, đối thoại, giải quyết kiến nghị của Nhân dân phải được xác định là nhiệm vụ thường xuyên. Cán bộ cơ sở cần sâu sát địa bàn, trực tiếp xuống thôn, tổ dân phố, lắng nghe, nắm chắc những vấn đề người dân quan tâm để xử lý kịp thời ngay từ cơ sở. Lấy sự đồng thuận và kết quả giải quyết công việc của người dân làm thước đo chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở.
Khai thác hiệu quả tiềm năng để phát triển

Tiến sĩ Đỗ Hải Yến Trưởng khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, trường Đại học Tân Trào
Tuyên Quang đang đứng trước bước ngoặt lớn sau khi hợp nhất, điều này mở ra không gian phát triển rộng lớn nhờ sự bổ trợ lẫn nhau giữa công nghiệp địa phương với du lịch, biên mậu và nông sản đặc hữu để hình thành chuỗi giá trị liên hoàn. Tuy vậy, đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Để Tuyên Quang thực sự bứt phá, cần tập trung thực hiện đồng bộ ba điều kiện cốt lõi: Thứ nhất là hạ tầng kết nối, sớm hoàn thành các tuyến cao tốc và nâng cấp cửa khẩu để giảm chi phí logistics. Thứ hai là thể chế, đảm bảo bộ máy vận hành thông suốt, quy hoạch tích hợp thực chất và thủ tục đầu tư nhanh gọn. Cuối cùng, quan trọng nhất là con người, phải đào tạo lao động tại chỗ cùng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia sâu vào chuỗi giá trị, đồng thời gắn chuyển đổi số với các sản phẩm cụ thể. Tóm lại, tài nguyên chỉ mở đường, thể chế, nhân lực mới quyết định của sự phát triển bền vững.

