7,2 triệu người có việc làm, vì sao sinh kế vẫn mong manh?
Khoảng 7,2 triệu người DTTS từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm. Nhưng hơn một nửa vẫn làm nghề giản đơn, phụ thuộc vào nông, lâm nghiệp hoặc lao động gia đình. Nút thắt vì thế nằm ở chất lượng việc làm và khả năng tạo ra thu nhập ổn định.

Khi đầu vào và đầu ra chưa ổn định, sinh kế của người chăn nuôi dễ bị tác động bởi giá thức ăn, dịch bệnh và biến động thị trường. Ảnh: Hoàng Quý
Có việc làm mỗi ngày, thu nhập vẫn lúc có, lúc không
Vợ chồng chị Hồ Thị Bình - người Bru Vân Kiều ở bản K-Rét, xã Dân Hóa, tỉnh Quảng Trị, nhận đủ việc để nuôi bốn con nhỏ, từ cắt bắp, làm cỏ đến làm thuê tại những cơ sở sản xuất trong vùng.
Cùng xã Dân Hóa, chị Hồ Thị Bốn thường xuyên đi cắt keo thuê. Việc nặng nhọc nhưng không đều, có thời điểm không ai thuê, nguồn thu của gia đình cũng dừng lại. Cả hai đều mong có vốn và kỹ thuật để chăn nuôi, trồng trọt, tạo thêm nguồn thu tại nhà.
Nếu thống kê theo khái niệm có việc làm, chị Bình và chị Bốn đều không thất nghiệp. Nhưng công việc không có hợp đồng, không bảo hiểm, lại phụ thuộc mùa vụ. Chỉ một đợt mưa kéo dài, giá nông sản giảm hoặc gia đình có người ốm, sinh kế lập tức chao đảo. Dân Hóa không thiếu người làm việc, nhưng thiếu những công việc đủ ổn định để người lao động dự tính thu nhập và tích lũy.
“
Theo Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2024, có khoảng 7,2 triệu người DTTS từ 15 tuổi trở lên có việc làm, tương ứng 68,7%. Tỷ lệ này ở nam giới là 72,9%, trong khi nữ giới đạt 64,2%; 87,1% số người có việc làm sống ở khu vực nông thôn.
Quy mô tham gia lao động lớn, nhưng có việc chưa đồng nghĩa với sống được bằng việc làm. Chỉ 14,9% lao động DTTS có việc làm đã qua đào tạo; 50,6% làm nghề giản đơn, trong khi nhóm chuyên môn kỹ thuật bậc cao và bậc trung chỉ chiếm 4,4%.
Đáng chú ý, 62,9% lao động DTTS vẫn làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Sự phụ thuộc lớn vào lĩnh vực chịu tác động trực tiếp của thời tiết, dịch bệnh và giá nông sản khiến thu nhập dễ biến động.
Khoảng 2/3 lao động DTTS làm việc dưới hình thức tự làm hoặc lao động gia đình; 28,1% là lao động gia đình không được trả công, trong khi chỉ 0,8% là chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Công việc tạo thu nhập tại chỗ nhưng mang tính mùa vụ, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, năng suất và giá thu mua. Ảnh: Hoàng Quý
Với phụ nữ DTTS, tỷ lệ làm lao động gia đình lên tới 38,9%, cao gấp 2,1 lần nam giới. Họ gieo trồng, chăm sóc vật nuôi, thu hái, sơ chế sản phẩm nhưng nhiều phần việc không được ghi nhận thành thu nhập riêng.
“
Kết quả tổng kết Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (Chương trình MTQG 1719) cho thấy thu nhập bình quân của người DTTS đến cuối năm 2024 đạt 43,4 triệu đồng/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020. Dù vậy, sinh kế vẫn mong manh nếu người dân bán sản phẩm thô, thiếu hợp đồng tiêu thụ và phải tự gánh rủi ro.
Trường hợp anh Hồ San, người Bru Vân Kiều ở bản Xuân Tiến, xã Trường Sơn, cho thấy sự bấp bênh ngay cả với công việc có tổ chức. Anh từng có nguồn thu ổn định từ bảo vệ rừng.
Nhưng từ ngày 1/7/2026, do thiếu kinh phí, anh cùng nhiều lao động phải tạm dừng việc.
Đầu năm 2026, đơn vị quản lý ký hợp đồng với 58 hộ bảo vệ hơn 5.800ha rừng, cần trên 7,1 tỷ đồng nhưng chỉ được phân bổ hơn 2,6 tỷ đồng. Khi hợp đồng gián đoạn, anh San chưa biết chuyển sang việc gì.
Ở chiều ngược lại, gia đình chị Đinh Thị Hiền tại thôn Gò Nghênh, xã Đặng Thùy Trâm, tỉnh Quảng Ngãi có nhiều nguồn thu nhờ kết hợp trồng keo, nuôi ong và nhận khoán bảo vệ rừng.
Tại Quảng Trị, sau năm đầu thực hiện dự án sinh kế nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, 13 nhóm sinh kế được hình thành với 140 hộ tham gia, chủ yếu là phụ nữ DTTS; thu nhập của phụ nữ tăng trung bình 45%. Điều đó cho thấy vốn chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng kỹ thuật, tổ chức sản xuất và đầu ra.

Nghề thủ công truyền thống tạo việc làm tại chỗ, nhưng thu nhập vẫn phụ thuộc sức mua và khả năng đưa sản phẩm ra thị trường. Ảnh: Hoàng Quý
Từ hỗ trợ một lần đến chuỗi chính sách việc làm
Tham luận của Vụ Chính sách (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) tại Hội thảo khoa học “Nhiệm vụ và giải pháp tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2035” nhận định chính sách hiện hành đã bao phủ nhiều khâu, từ đào tạo nghề, hỗ trợ sinh kế, tín dụng đến khởi nghiệp.
Điểm yếu là các chính sách còn phân tán: Đào tạo chưa luôn đi cùng việc làm; sinh kế chưa luôn đi cùng thị trường. Có hộ được cấp giống nhưng thiếu kỹ thuật; được học nghề nhưng không có nơi tuyển dụng; làm ra sản phẩm nhưng thiếu chế biến và nơi tiêu thụ.
“
Riêng Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021 - 2025 đã hỗ trợ 1.901 mô hình đào tạo nghề với 115.575 lao động tham gia; 5.385 người được hỗ trợ kỹ năng, ngoại ngữ và thủ tục đi làm việc ở nước ngoài; 37.718 người được tư vấn cơ hội việc làm ngoài nước.
Quy mô hỗ trợ đã mở rộng, nhưng số lớp, số học viên hay lượt tư vấn chưa cho biết công việc được duy trì bao lâu và thu nhập thay đổi thế nào.
Giai đoạn tới, chính sách cần được nối thành chuỗi: hướng nghiệp, đào tạo, vốn, tổ chức sản xuất, thị trường, thu nhập và an sinh. Với sinh kế tự làm, phải theo dõi thu nhập ròng, hợp đồng đầu ra và khả năng duy trì sau 12 - 24 tháng.
Với lao động hưởng lương, thước đo cần là tỷ lệ có việc sau đào tạo, tỷ lệ duy trì việc làm sau 6 hoặc 12 tháng, thu nhập, hợp đồng và bảo hiểm xã hội. Các chỉ tiêu cũng cần phân tách theo giới để phần lao động của phụ nữ không tiếp tục bị che khuất.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang hoàn thiện Đề án Tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Đây là thời điểm cần chuyển từ đếm số người đang làm việc sang đo chất lượng cuộc sống do việc làm tạo ra.
Với 7,2 triệu người có việc làm, câu hỏi quan trọng là công việc có mang lại thu nhập đủ sống, giúp tích lũy và còn tồn tại sau một mùa vụ hay chu kỳ hỗ trợ hay không. Khi trả lời được bằng kết quả cụ thể, việc làm mới thực sự trở thành nền móng của sinh kế bền vững.
