AEF 2026: Ngoại giao công nghệ và bài toán phát triển bền vững cho các siêu đô thị

Chiều 27/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, đã diễn ra phiên thảo luận "Ngoại giao công nghệ cho các siêu đô thị: TP. Hồ Chí Minh chuyển hóa quan hệ đối tác công nghệ thành tăng trưởng".

Ông Philipp Agathonos, Đại sứ Áo tại Việt Nam, chia sẻ các góc nhìn trong xây dựng thành phố thông minh. (Ảnh: Hùng Triều)

Ông Philipp Agathonos, Đại sứ Áo tại Việt Nam, chia sẻ các góc nhìn trong xây dựng thành phố thông minh. (Ảnh: Hùng Triều)

Phiên chuyên đề quy tụ lãnh đạo thành phố, những nhà ngoại giao có kinh nghiệm về các vấn đề công nghệ và các đại diện doanh nghiệp nhằm trao đổi về thực tiễn xây dựng và quản trị các quan hệ đối tác công nghệ trong thế giới ngày càng kết nối.

Phát biểu khai mạc sự kiện, Đại sứ Áo tại Việt Nam Philipp Agathonos nhấn mạnh, xây dựng thành phố thông minh cần được tiếp cận một cách toàn diện, bắt đầu từ việc xác định các kịch bản phát triển, xây dựng chiến lược, triển khai thí điểm, sau đó đánh giá và giám sát kết quả. Theo nhà ngoại giao, mục tiêu của thành phố thông minh không phải là số hóa bằng mọi giá, mà là sử dụng các nguồn lực hiệu quả nhất, bao gồm đất đai, năng lượng, nhân lực, tài chính và thời gian.

Đặc biệt, Đại sứ cho rằng dữ liệu có thể giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực, song quá trình phát triển đô thị cũng cần chú trọng lắng nghe ý kiến người dân và tạo điều kiện để họ tham gia vào công tác quy hoạch. Các mô hình như phòng thí nghiệm đô thị (urban living labs) có thể góp phần thúc đẩy sự tham gia này. Bên cạnh đó, thành phố thông minh cần hướng tới những giải pháp thiết thực như chuyển đổi rác thải thành năng lượng, phát triển các tòa nhà và hệ thống giao thông phát thải carbon thấp. Để triển khai những giải pháp như vậy, cần có khuôn khổ pháp lý phù hợp, chẳng hạn quy định cho phép bán lượng năng lượng dư thừa.

Đại sứ Philipp Agathonos lưu ý, các giải pháp thông minh cần có khả năng mở rộng, từ quy mô một tòa nhà đến toàn thành phố và rộng hơn. Bản sao số (digital twin) ở cấp địa phương có thể hỗ trợ quá trình này, nhưng điều quan trọng là các hệ thống phải có khả năng tương tác với nhau. Do đó, ông khuyến nghị ưu tiên các giải pháp mã nguồn mở thay vì phụ thuộc vào những hệ thống khép kín của nhà cung cấp, đồng thời duy trì năng lực chuyên môn ngay trong các cơ quan chính quyền. An ninh mạng cũng cần được tính đến ngay từ khâu thiết kế.

Các diễn giả trao đổi tại phiên thảo luận. (Ảnh: Hùng Triều)

Các diễn giả trao đổi tại phiên thảo luận. (Ảnh: Hùng Triều)

Đại sứ cũng đề cập việc xây dựng không gian dữ liệu đáng tin cậy, bảo đảm chủ quyền dữ liệu và giảm sự phụ thuộc vào các nền tảng dữ liệu lớn. Theo đó, bên cạnh việc nâng cao chất lượng dịch vụ chính phủ điện tử, các thành phố cũng cần tăng cường kỹ năng số cho người dân, đặc biệt là người cao tuổi, để bảo đảm mọi người đều có thể tiếp cận và hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi số.

Nhà ngoại giao sử dụng hình ảnh “hộ chiếu dữ liệu” để giải thích cách thức quản lý và chia sẻ dữ liệu. Tương tự hộ chiếu giúp xác định danh tính của một người, hộ chiếu dữ liệu có thể cung cấp thông tin về dữ liệu, đồng thời xác định các điều kiện truy cập và sử dụng. Ông Philipp Agathonos đề cập Gaia-X, sáng kiến phi lợi nhuận của châu Âu nhằm thúc đẩy các hệ sinh thái dữ liệu, đồng thời cho biết Gaia-X tại Áo đang tìm hiểu khả năng hợp tác với các đối tác Việt Nam. Theo nhà ngoại giao, cần phân loại dữ liệu và làm rõ các điều kiện liên quan đến quyền truy cập, giá cả và thời hạn sử dụng, nhưng không nên áp đặt việc chủ sở hữu phải bán dữ liệu hay cung cấp miễn phí dữ liệu đó.

Về an ninh mạng, Đại sứ nhấn mạnh, yếu tố này cần được tích hợp ngay từ đầu trong quá trình xây dựng hệ thống thành phố thông minh. Trong đó, bên cạnh đào tạo và cung cấp các công cụ học tập, việc tổ chức diễn tập cũng đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các cơ sở hạ tầng thiết yếu.

Chia sẻ kinh nghiệm từ Vienna, Đại sứ Philipp Agathonos cho biết, thành phố này chú trọng nâng cao kỹ năng số cho lực lượng lao động, khuyến khích phụ nữ tham gia lĩnh vực công nghệ thông tin và thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ địa phương. Các sáng kiến như cuộc thi hackathon Digital Girls không chỉ góp phần khuyến khích nữ giới tiếp cận lĩnh vực công nghệ, mà còn bảo đảm tính bao trùm trong quá trình chuyển đổi số, không để ai bị bỏ lại phía sau.

TS. Sïmon Saneback, Giám đốc vận hành Tech Diplomacy Global Institute. (Ảnh: Hùng Triều)

TS. Sïmon Saneback, Giám đốc vận hành Tech Diplomacy Global Institute. (Ảnh: Hùng Triều)

Tại phiên thảo luận do TS. Sïmon Saneback, Giám đốc vận hành Tech Diplomacy Global Institute điều phối, các diễn giả đã cùng trao đổi, phân tích vai trò của ngoại giao công nghệ cũng như những thách thức then chốt trong việc xây dựng hệ sinh thái công nghệ tại các siêu đô thị như TP. Hồ Chí Minh.

TS. Sïmon Saneback nhấn mạnh, ngoại giao ngày nay không chỉ xoay quanh biên giới, thương mại hay an ninh truyền thống, mà đã mở rộng sang chip bán dẫn, dữ liệu, năng lượng và các tiêu chuẩn mới được thúc đẩy bởi công nghệ. Ngoại giao công nghệ chính là phương thức để chính quyền các cấp, các thành phố và doanh nghiệp cùng ngồi lại đàm phán những tiêu chuẩn này.

Bà Ayumi Moore Aoki, Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Điều hành Women in Tech Global. (Ảnh: Hùng Triều)

Bà Ayumi Moore Aoki, Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Điều hành Women in Tech Global. (Ảnh: Hùng Triều)

Chia sẻ góc nhìn này, bà Ayumi Moore Aoki, Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Điều hành Women in Tech Global; Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch, Tech Diplomacy Global Institute, chỉ ra rằng TP. Hồ Chí Minh với quy mô khoảng 14 triệu dân tương đương hoặc lớn hơn nhiều quốc gia trên thế giới. Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh (SHTP) đã thu hút hơn 14 tỷ USD vốn đầu tư, cùng các dự án trung tâm dữ liệu quy mô hàng tỷ USD vừa được cam kết xây dựng.

Theo bà Ayumi, trong bối cảnh công nghệ mới, các quốc gia và đô thị đang phụ thuộc lớn vào những mô hình AI, hạ tầng đám mây và chuỗi cung ứng thuộc sở hữu của các tập đoàn công nghệ nước ngoài thay vì các chính phủ.

Do đó, đối với một siêu đô thị như TP. Hồ Chí Minh, ngoại giao công nghệ đòi hỏi chính quyền phải trực tiếp thương lượng với các tập đoàn quốc tế không chỉ về mặt bằng, đất đai mà còn về tác động xã hội, nguồn năng lượng, chính sách dữ liệu, chủ quyền số và nguồn nhân lực. Đàm phán thành công phải dựa trên niềm tin và sự công bằng, mang lại lợi ích cân bằng cho cả địa phương lẫn nhà đầu tư.

PGS. TS. Nguyễn Anh Thi, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Citares; Chuyên gia Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR). (Ảnh: Hùng Triều)

PGS. TS. Nguyễn Anh Thi, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Citares; Chuyên gia Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR). (Ảnh: Hùng Triều)

Bàn về năng lực nội tại của địa phương, PGS. TS. Nguyễn Anh Thi, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Citares; Chuyên gia Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại TP. Hồ Chí Minh (HCMC C4IR) cho biết, một trong những điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hiện nay là lực lượng lao động kỹ thuật chất lượng cao.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, để giải quyết bài toán này, thành phố cần tiếp cận theo mô hình hệ sinh thái đa phương, kết nối giới học thuật với doanh nghiệp và các đối tác công nghệ quốc tế để đào tạo kỹ năng thực chiến trong các lĩnh vực tự động hóa, robot và sản xuất thông minh. Theo ông, các quốc gia có thể nhập khẩu công nghệ nhưng không thể nhập khẩu năng lực đổi mới sáng tạo; năng lực sáng tạo bắt buộc phải được xây dựng và nuôi dưỡng từ nội lực địa phương.

Còn ở góc độ chủ quyền công nghệ, Đại sứ Áo tại Việt Nam Philipp Agathonos khuyến nghị, các đô thị không nên để bị phụ thuộc hoàn toàn vào các tập đoàn công nghệ khổng lồ; đồng thời cảnh báo các tập đoàn lớn có xu hướng khai thác tối đa dữ liệu của người dùng địa phương, do đó chính quyền cần chủ động nắm giữ dữ liệu và tỉnh táo trước các giải pháp đóng kín (black box).

Đại sứ Philipp Agathonos cũng bày tỏ, các thành phố cần xây dựng năng lực thẩm định công nghệ độc lập ngay trong bộ máy công quyền, ưu tiên sử dụng mã nguồn mở và thiết lập cơ chế phản hồi thực tế từ chính người dân để tránh đầu tư lãng phí vào các dự án hạ tầng thiếu khả thi.

TS. Sandy Chong, Giám đốc các Sáng kiến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). (Ảnh: Hùng Triều)

TS. Sandy Chong, Giám đốc các Sáng kiến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). (Ảnh: Hùng Triều)

Bên cạnh đó, TS. Sandy Chong, Giám đốc các Sáng kiến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã chỉ ra ba trụ cột để xây dựng hệ sinh thái công nghệ thành công gồm: hợp tác liên ngành (collaboration), hội tụ (convergence) và nguồn vốn (capital). TS. Sandy Chong chia sẻ, văn hóa hợp tác tại châu Á nói chung đặt trọng tâm vào trách nhiệm xã hội và sự hỗ trợ tương hỗ. Khi các tập đoàn công nghệ tiếp cận thị trường địa phương, thành phố cần yêu cầu họ cam kết hỗ trợ hệ sinh thái bản địa thông qua đào tạo, chia sẻ công nghệ và tài trợ các dự án cộng đồng.

GS. Wesley Rosslyn-Smith, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Công nghiệp Nam Phi. (Ảnh: Hùng Triều)

GS. Wesley Rosslyn-Smith, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Công nghiệp Nam Phi. (Ảnh: Hùng Triều)

Đặc biệt, nhắc nhở về mục tiêu của phát triển đô thị, GS. Wesley Rosslyn-Smith, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Công nghiệp Nam Phi, cho rằng việc áp dụng bản sao số (digital twins), tối ưu hóa dữ liệu giao thông hay lượng nước tiêu thụ chỉ là công cụ. Mục đích cuối cùng của một đô thị thông minh là tạo ra môi trường sống dễ dàng, thuận tiện, giảm ùn tắc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân.

Ngọc Anh

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/aef-2026-ngoai-giao-cong-nghe-va-bai-toan-phat-trien-ben-vung-cho-cac-sieu-do-thi-461425.html