AI sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ thuộc về ai?
AI ngày càng tham gia vào sáng tạo, đặt ra yêu cầu làm rõ chủ thể quyền và phạm vi bảo hộ. Luật cần xác định vai trò của con người, bảo vệ đóng góp sáng tạo, ngăn việc sử dụng tác phẩm trái phép.

(Ảnh minh họa. Gemini)
Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng tham gia sâu vào quá trình sáng tạo, nhưng sản phẩm do công nghệ tạo ra được bảo hộ đến đâu, quyền sở hữu trí tuệ thuộc về ai vẫn là vấn đề cần làm rõ. Việc xác định chủ thể quyền, mức độ đóng góp sáng tạo của con người và giới hạn sử dụng tác phẩm, dữ liệu để phát triển AI đang đặt ra những yêu cầu mới đối với pháp luật sở hữu trí tuệ.
Tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI ngày 3/11, các đại biểu đề nghị làm rõ những nguyên tắc pháp lý liên quan đến AI. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến tập trung vào cơ chế khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ và yêu cầu bảo đảm chất lượng giám định sở hữu trí tuệ khi cắt giảm điều kiện kinh doanh.
Chủ thể quyền thế nào với sản phẩm có AI tham gia?
Đối với quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh AI phát triển nhanh chóng, đại biểu Nguyễn Trung Kiên (Đoàn đại biểu Quốc hội Đồng Nai) cho rằng cần làm rõ hơn các nguyên tắc cơ bản ngay trong lần sửa đổi, bổ sung này, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và ổn định. Khoản 5 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện quy định cơ sở pháp lý về việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được tạo ra có sử dụng AI và giao Chính phủ quy định chi tiết.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu hoàn thiện khoản 5 Điều 6 theo hướng xác định rõ nền tảng AI không phải là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ; sản phẩm do người sử dụng AI tạo ra được bảo hộ tương ứng với mức độ đóng góp sáng tạo của cá nhân đó.
Cùng với việc xác định chủ thể quyền, cần hoàn thiện quy định về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 7, làm rõ điều kiện sử dụng tác phẩm, dữ liệu được bảo hộ để phát triển và vận hành nền tảng AI, bảo đảm cân bằng giữa quyền lợi của chủ thể sáng tạo với nhu cầu nghiên cứu, phát triển công nghệ.
Đại biểu lưu ý phải phân biệt việc sử dụng dữ liệu hợp pháp để nghiên cứu, phát triển, huấn luyện AI với hành vi sao chép, khai thác thương mại trái phép tác phẩm được bảo hộ; không nên để AI trở thành công cụ hợp pháp hóa hành vi xâm phạm bản quyền.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên, Đoàn đại biểu Quốc hội Đồng Nai. (Ảnh: QH)
Ở lĩnh vực y tế, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội) cho biết AI đang hỗ trợ đáng kể cho bác sỹ trong đọc, chẩn đoán hình ảnh, kê đơn thuốc và phát hiện sai sót y khoa. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị giữ nguyên tắc AI không phải là tác giả; kết quả chẩn đoán có sự hỗ trợ của AI phải thuộc trách nhiệm của con người chịu trách nhiệm lâm sàng. Đồng thời, cần quy định rõ sản phẩm do AI tạo ra không được bảo hộ nếu không có sự can thiệp sáng tạo của con người.
Không chỉ đặt ra yêu cầu về xác lập quyền, đại biểu Nguyễn Trung Kiên còn đề cập việc khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, đưa nguồn lực này đóng góp vào phát triển kinh tế. Theo đại biểu, quy định của Luật Sở hữu trí tuệ cần bảo đảm thống nhất với các luật liên quan, trong đó có dự thảo Luật Đấu giá về khả năng đấu giá, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học có sáng chế, giải pháp hữu ích, phần mềm, công nghệ và các tài sản trí tuệ có giá trị, nhưng khả năng thương mại hóa còn hạn chế.
Điều 138 về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và Điều 141 về chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là những cơ sở pháp lý quan trọng để khai thác tài sản trí tuệ, song cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế định giá, góp vốn, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm và chuyển giao kết quả nghiên cứu.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ trong nhóm quy định về chuyển giao quyền, theo hướng Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân xác định giá trị, góp vốn, chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng và khai thác thương mại hợp pháp tài sản trí tuệ.
Cùng với đó là phát triển thị trường giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, cơ sở dữ liệu phục vụ định giá và các dịch vụ hỗ trợ thương mại hóa; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học đưa kết quả nghiên cứu, sáng chế vào sản xuất, kinh doanh, bảo đảm phân chia lợi ích hợp lý giữa tổ chức đầu tư, đơn vị chủ trì và người trực tiếp sáng tạo.

Phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ sáng nay, ngày 3/11. (Ảnh: Doãn Tuấn/TTXVN)
Giám định sở hữu trí tuệ thế nào?
Góp ý về Điều 201 của dự thảo Luật, đại biểu Vũ Minh Đạo (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu) cho rằng quy định này điều chỉnh cả giám định quyền tác giả và quyền liên quan, tác động trực tiếp đến người sáng tạo và doanh nghiệp văn hóa. Vì vậy, cần quy định rõ nguyên tắc khách quan, trung thực và trách nhiệm đối với kết luận giám định.
Theo đại biểu, khi chuyển sang cơ chế thông báo hoạt động, dự thảo Luật cần cụ thể hóa các biện pháp bảo đảm chất lượng, trong đó có nguyên tắc kiểm soát xung đột lợi ích và nghĩa vụ từ chối giám định khi không bảo đảm tính độc lập, khách quan, nhất là trường hợp người giám định đang đại diện cho một bên trong chính vụ việc đó.
“Kết luận giám định phải thể hiện rõ căn cứ, phương pháp và dữ liệu sử dụng, có cơ chế kiểm chứng, giám định lại và trách nhiệm bồi thường theo quy định khi kết luận sai gây thiệt hại. Phạm vi giao Chính phủ quy định chi tiết cần rõ ràng, tránh tái lập điều kiện kinh doanh dưới hình thức khác,” đại biểu nhấn mạnh.

Đại biểu Vũ Minh Đạo, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu. (Nguồn: QH)
Cùng góp ý về nội dung này, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng) tán thành việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ. Theo đại biểu, vấn đề hiện nay không còn là giữ hay bỏ điều kiện, mà là thay bằng cơ chế nào để bảo đảm độ tin cậy của kết luận giám định sau khi chuyển từ tiền kiểm sang thông báo và công khai.
Qua rà soát dự thảo Nghị định, đại biểu nhận thấy nhiều nội dung nghiệp vụ đã được dự kiến quy định khá cụ thể, do đó đồng tình với việc giao Chính phủ quy định những nội dung mang tính kỹ thuật.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị cân nhắc thể hiện ngay trong Điều 201 ba nguyên tắc. Thứ nhất, về tính độc lập và phòng ngừa xung đột lợi ích, Luật cần xác lập nguyên tắc người giám định phải độc lập, không có lợi ích liên quan đến vụ việc; các trường hợp cụ thể phải từ chối giám định giao Chính phủ quy định.
Thứ hai, đối với hồ sơ và dữ liệu điện tử, Luật cần đặt ra yêu cầu về tính xác thực, toàn vẹn, khả năng truy xuất và kiểm chứng. Phương pháp thu thập, lưu giữ, xác thực dữ liệu là vấn đề kỹ thuật có thể giao Chính phủ quy định. Đại biểu cho rằng trong môi trường số, đây là điều kiện trực tiếp quyết định độ tin cậy của kết luận giám định.
Thứ ba, cần có căn cứ rõ trong Luật về trách nhiệm hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước. Khi đã bỏ điều kiện đầu vào, cơ chế phải vận hành theo chuỗi: thông báo, công khai, báo cáo, hậu kiểm và xử lý vi phạm. Trình tự, tần suất và phương thức hậu kiểm có thể giao Chính phủ quy định.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị rà soát kỹ dự thảo Nghị định để bảo đảm thống nhất với Luật khi thẻ giám định viên không còn là điều kiện hành nghề; làm rõ trách nhiệm bồi thường khi kết luận giám định sai theo nguyên tắc và pháp luật dân sự, tránh quy định theo hướng chỉ phát sinh trách nhiệm khi có lỗi cố ý. Đối với việc xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ và giá trị thiệt hại, cần phân định rõ với pháp luật về giá, thẩm định giá, tránh hình thành một cơ chế định giá song song thiếu chuẩn mực thống nhất.
Các đại biểu khẳng định việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ cần theo kịp sự phát triển của công nghệ, đồng thời bảo đảm các quy định rõ ràng, khả thi vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp mà vẫn thúc đẩy hoạt động sáng tạo./.


