Âm thầm bồi đắp phù sa
Sông Mã mênh mang bao câu chuyện dài chưa từng kể hết. Mỗi lần đứng bên bờ, tôi có cảm giác mình đang lật mở từng trang sách. Mỗi trang miên man theo mùa nước, theo lớp lớp phù sa bồi đắp cùng năm tháng sống giữa những làng mạc kiên trì gìn giữ nếp quê. Sông âm thầm mạch nguồn kiên nhẫn đầy vơi mà ngay cả con người đôi khi cũng không có được...

Bãi bồi xã Vĩnh Lộc đất mỡ màng, cây cối tốt tươi. (Kiều Huyền)
Những con nước từ biên giới Việt - Lào xuôi về, qua vùng đất Bá Thước, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa và TP Thanh Hóa cũ, rồi đổ ra biển, mang theo hương phù sa, mưa nắng. Bao lớp phù sa lặng lẽ ấy vun nên từng bãi bồi rộng mở. Bãi bồi xã Vĩnh Lộc đất mỡ màng như tấm bánh mật, gieo trồng gì cũng dễ dàng bén rễ, sinh sôi. Gió thổi dọc dài bờ bãi góp thêm trầm tích cần cù, nên không gian lúc nào cũng chín muồi cảm giác bình yên sâu đậm. Yên Trường lại mang vẻ tinh nghịch của lũ trẻ chăn trâu và những luống ngô đội đất sớm. Đất không quá dày, nhưng lại xốp tơi, rất hợp trồng dưa. Bãi bồi Định Tân hiền như khói, bởi nó nằm sát mép nước, thay đổi hình hài theo từng mùa con nước. Buổi sớm, bãi phủ hơi sương, trông xa như dải lụa bạc. Có những khi, người làng bảo bãi đang “lớn thêm đôi tấc”, quãng khác lại bị dòng nước bẻ ngoặt, “xén” đi. Nhưng chính sự biến đổi lại mang vẻ đẹp mong manh, đầy sức sống.
Bãi bồi ven sông Lèn - nhánh con của sông Mã - thì nhỏ nhắn, vỗ về cho không gian mộc mạc của những ngôi làng ven sông. Triền cải vàng trải ra tựa tấm khăn lụa, mùa nào cũng có trẻ con chạy chân trần. Bãi nhỏ, nhưng đất lại rất “nết na”, trồng gì cũng lên theo lối chậm rãi mà khỏe khoắn. Nếu đi dọc các dòng nhánh của sông Mã, từ sông Chu đổ về vùng đất Thiệu Hóa, đến sông Bưởi uốn mình qua vùng đất Vĩnh Lộc cũ, sẽ nhận ra bãi bồi luôn khoác lên sắc thái khác: có bãi nhọc nhằn như vai người lam lũ, đất pha sỏi đá, muốn biết sức bền phải vun đắp đậm sâu. Có bãi êm như lòng bàn tay mẹ, đất tơi mềm, nhón lên đã thoang thoảng hương phù sa những mùa no đủ.
Có lẽ, xét đến tận cùng, thì điều làm nên nét riêng của các bãi bồi ở xứ Thanh chính là cách ghi nhớ, bồi lắng ký ức cho dòng sông. Nơi nào từng qua nhiều mùa lũ, đất nặng và dày. Nơi nào dòng chảy hiền hòa, đất phẳng tựa mâm đồng. Nơi nào con người sống gắn bó lâu đời, bãi bồi như mang hơi thở của nếp nhà, tiếng giặt giũ, dáng trâu quẫy nước buổi trưa. Bãi bồi là nơi phù sa viết bằng sắc mực nâu và con người phác bằng bàn tay lao động và niềm tin rằng đất đai, dù bị dòng nước thử thách bao lần, vẫn sẽ tiếp tục bao dung, nuôi dưỡng những mùa vàng. Nếu coi bãi bồi là di sản thì chắc chắn chúng ta lưu giữ đời sống theo cách riêng. Văn hóa Đông Sơn, từ nhịp trống đồng cho tới những dấu chân khai khẩn đầu tiên của người Việt cổ đều từng cần đến sự vỗ về từ dòng chảy, sự bồi tụ thao thiết từ sông. Bãi bồi thành bến đậu thuyền bè, nơi dựng nhà, nhóm bếp, nơi những tập tục hình thành, in dấu. Có làng đến giờ vẫn kể câu chuyện thuở xa xưa, tổ tiên chạy loạn, bãi bồi cứu mạng, hết giông bão, bãi bồi bao bọc, nối thêm trù phú, mênh mông.
Tôi từng vãn cảnh trên một doi cát ở Thiệu Hóa lúc bình minh. Gió đưa mùi đất mới, ấm và mềm như hơi thở. Tiết xuân, bà con nông dân khom lưng nhổ từng bụi cỏ, chăm cho ruộng ngô lấm tấm xanh. Mộc mạc mà đầy kính cẩn trước sông bởi ai cũng hiểu, mùa màng có tươi tốt hay không, phần lớn nhờ vào lớp phù sa mà sông đã gửi lại từ bao ngày tháng trước.
Trên hành trình du ngoạn, chúng tôi gặp lũ mục đồng túa ra từ một xóm nhỏ mạn Yên Định. Vừa chào khách, vừa chạy nhảy, đám trẻ vừa khoe về dự định hết xuân, sang hè sẽ thả diều trên bãi mới nổi. Trẻ thơ reo cười như chưa từng có câu chuyện lũ lụt, sạt lở nào. Nét vô tư ấy khiến người lớn thêm thấm thía: bãi bồi đâu chỉ là nơi canh tác, mà đó chính là không gian để ký ức tuổi thơ bén rễ, đơm chồi.
Cuối năm, tôi trở lại bến làng mình. Nước lặng như gương. Vài con thuyền nhỏ buộc dây, mũi còn vương vất phù sa năm cũ. Bà cụ bán hàng nước dưới gốc cây gạo cổ thụ nói với tôi mà như tự nhủ: “Tết nào cũng phải ra nom bãi bồi, để biết năm qua sông thương mình nhiều hay ít”. Tôi hỏi: “Sao lại thương?” Bà đáp khẽ: “Sông thương thì đất mới nở, cây mới lên, người mới bình thản mà sống được”. Nghe dâng lên nỗi nghèn nghẹn.
Làng tôi nằm nép bên bờ sông Lèn, dải đất mềm như tà áo mẹ. Mỗi độ xuân về, khi gió từ thượng nguồn mang theo hơi nước mơn man lên bãi bồi, khắp làng xôn xao tục lấy nước mới. Sáng mồng một tết, trời còn chưa rõ màu, những người đàn ông rảo bước ra bến, tay xách chiếc thùng sành, còn các bà, các chị thì nâng niu chiếc vò đất nung đã rửa sạch từ đêm giao thừa. Người làng chèo thuyền ra giữa dòng, lặng lẽ múc từng gáo nước được tin là sạch nhất, mới nhất, mang ý nghĩa khởi đầu đủ đầy cho cả năm. Tiếng nước rót vào thùng, vào vò như lời thì thầm, thủ thỉ của dòng sông. Nước mới để dâng cúng tổ tiên, hãm nước chè, nấu bữa cơm đầu tiên trong niềm mong mỏi về sự bình an cho gia đình, mùa màng yên ổn...
Có những điều cần mẫn không dễ bề nhìn thấy. Lớp lớp phù sa như bụi thời gian, đang chìm xuống, an ủi đất đai bằng cách riêng, từng chút một như mật ngọt. Nước có thể giận dữ, nhưng phù sa có lẽ chưa bao giờ nỡ phụ lòng người.
Dạo trên bãi bồi những ngày xuân, lòng người dễ mềm đi như đất. Mỗi bước chân đặt xuống lại nghe lòng mình nở nhẹ, như thể phù sa không chỉ bồi cho bãi, mà bồi cả cho ta lớp lang bình yên, thổn thức. Bãi bồi xuân gợi lên cảm giác mọi nỗi niềm năm cũ đã được sông khỏa vào miền sâu kín, để hôm nay bày ra trước mắt là miền tơ non, là hơi thở mới, là cơn mộng dịu dàng không muốn bẻ dòng. Và trong nỗi niềm bâng khuâng, rưng rưng, ta nhận ra mùa xuân có thể không buông xuống từ trời, mà trồi lên từ lòng đất ấm, từ nét uốn lượn của sông để lại cho những bãi bồi câu chuyện hồi sinh bền bỉ.
Lớp lớp phù sa như bụi thời gian, đang chìm xuống, an ủi đất đai bằng cách riêng, từng chút một như mật ngọt. Nước có thể giận dữ, nhưng phù sa có lẽ chưa bao giờ nỡ phụ lòng người.
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/am-tham-boi-dap-phu-sa-277189.htm











