An Giang: Phát triển chế biến sâu, hình thành chuỗi giá trị nông thủy sản từ lợi thế vùng nguyên liệu
Với lợi thế vùng nguyên liệu nông thủy sản quy mô lớn, An Giang đang đẩy mạnh kết nối sản xuất với chế biến sâu, logistics và thị trường, qua đó nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và từng bước hình thành chuỗi giá trị nông thủy sản bền vững.
Phát huy lợi thế nguyên liệu, nâng cao giá trị nông sản
An Giang có nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, với các ngành hàng chủ lực là lúa gạo, thủy sản nước ngọt và cây ăn trái. Đây là nguồn cung quan trọng cho công nghiệp chế biến, bảo quản và phân phối nông sản, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Năm 2025, sản lượng lúa của tỉnh đạt khoảng 8,8 triệu tấn, trong đó lúa chất lượng cao chiếm 59%; tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 1,6 triệu tấn. Quy mô nguyên liệu này tạo lợi thế để phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Bà Nguyễn Duy Ninh Thảo, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh An Giang trình bày tham luận tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII - năm 2026
Theo thông tin từ tỉnh An Giang, trong 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,74%; sản lượng thủy sản đông lạnh tăng 21,62%, xay xát gạo tăng 20,97%. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.837,3 triệu USD, với các mặt hàng chủ lực gồm thủy sản đạt 721,5 triệu USD, gạo đạt 200,35 triệu USD và rau quả đạt 67,99 triệu USD. Tính chung, kim ngạch xuất khẩu tăng 7,4% so với cùng kỳ; xuất khẩu thủy sản tăng 26,5%, gạo tăng 16,6% và rau quả tăng 15,4%.
Kết quả trên cho thấy các ngành hàng dựa vào lợi thế nguyên liệu tiếp tục đóng góp quan trọng vào sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh. Tuy nhiên, để nâng cao giá trị, An Giang cần chuyển mạnh từ tiêu thụ nguyên liệu thô sang chế biến sâu, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường.
Vì vậy, việc hình thành trung tâm đầu mối chế biến nông thủy sản gắn với vùng sinh thái nước ngọt tỉnh An Giang cần được đặt trong tổng thể chuỗi giá trị, kết nối vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến, hệ thống logistics, phân phối và thị trường xuất khẩu. Mục tiêu không chỉ là tăng năng lực sản xuất mà còn nâng hiệu quả sử dụng nguyên liệu, giảm chi phí và tạo thêm giá trị cho người sản xuất, doanh nghiệp.
Tổ chức vùng nguyên liệu theo yêu cầu thị trường
Nguồn nguyên liệu ổn định, đồng đều về chất lượng là điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp chế biến. An Giang cần tổ chức sản xuất tập trung, chuyên môn hóa, gắn kế hoạch vùng trồng, vùng nuôi với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.
Đối với lúa gạo, tỉnh định hướng phát triển khoảng 354.000 ha lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu tại ba vùng sinh thái: giữa sông Tiền - sông Hậu, Tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu. Cùng với đó là quy hoạch khoảng 25.000 ha lúa hữu cơ phục vụ xuất khẩu và vùng lúa - tôm, tôm - lúa từ 85.000 đến 108.000 ha.

Nuôi trồng thủy sản tại xã Giang Thành, An Giang (ảnh: UBND xã Giang Thành)
Việc tham gia Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long tạo điều kiện để tỉnh mở rộng sản xuất theo hướng xanh. Năm 2025, diện tích lúa chất lượng cao, phát thải thấp triển khai tại An Giang đạt 150.151 ha, bằng 104% kế hoạch, với sản lượng hơn 900.000 tấn.
Trên cơ sở đó, tỉnh An Giang có thể phát triển các dòng gạo chất lượng cao, gạo hữu cơ và sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu lựa chọn giống, xác định thời vụ, sản lượng đến kiểm soát chất lượng và ký hợp đồng tiêu thụ. Cách làm này giúp bảo đảm nguồn cung phù hợp với yêu cầu chế biến, đồng thời hạn chế tình trạng sản xuất thiếu gắn kết với thị trường.
Đối với thủy sản nước ngọt, cần phát triển vùng nuôi tập trung, kiểm soát môi trường và chất lượng nguyên liệu. Việc ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và Internet vạn vật (IoT) trong quản lý vùng nuôi có thể hỗ trợ giám sát sản xuất, truy xuất nguồn gốc và giảm rủi ro.
Với cây ăn trái và rau màu, tỉnh cần mở rộng vùng sản xuất sạch, ứng dụng công nghệ cao, gắn với sơ chế, bảo quản và chế biến. Quản lý mã số vùng trồng, kiểm soát dư lượng và đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật sẽ giúp nông sản tiếp cận tốt hơn các thị trường có tiêu chuẩn cao, đồng thời giảm phụ thuộc vào tiêu thụ tươi.
Để duy trì vùng nguyên liệu ổn định, cần củng cố liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trên cơ sở thống nhất quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, sản lượng và hợp đồng tiêu thụ. Đây là nền tảng để nhà máy chế biến chủ động nguồn cung, còn người sản xuất có đầu ra ổn định hơn.
Phát triển chế biến sâu, tạo động lực tăng trưởng
Theo định hướng của ngành Công Thương An Giang, đến năm 2030, giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm của tỉnh phấn đấu tăng bình quân 8-10% mỗi năm; tỷ lệ nông sản chủ lực được chế biến sâu đạt trên 30%.
Để đạt mục tiêu, tỉnh cần thu hút các dự án chế biến hiện đại, ứng dụng công nghệ tiên tiến và tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Với lúa gạo, bên cạnh sản phẩm gạo thành phẩm, cần phát triển các sản phẩm chế biến từ gạo và khai thác phụ phẩm làm nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, công nghiệp. Đối với thủy sản, cần đa dạng hóa sản phẩm, nâng chất lượng, cải thiện công nghệ bảo quản và đáp ứng các đơn hàng có yêu cầu kỹ thuật cao. Với trái cây, đầu tư công nghệ sấy, cấp đông, đóng hộp và sản xuất nước ép sẽ giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch và mở rộng thị trường.
Cùng với sản phẩm chính, phụ phẩm từ lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái cần được khai thác hiệu quả để sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón, nhiên liệu và các sản phẩm phù hợp. Hướng đi này vừa nâng hiệu quả sử dụng nguyên liệu, vừa giảm chất thải và tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp.

Theo bà Nguyễn Duy Linh Thảo, việc hình thành trung tâm đầu mối chế biến nông thủy sản gắn với vùng sinh thái nước ngọt tỉnh An Giang cần được đặt trong tổng thể chuỗi giá trị, kết nối vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến, hệ thống logistics, phân phối và thị trường xuất khẩu
An Giang định hướng phát triển ít nhất một khu hoặc cụm công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm hiện đại phục vụ xuất khẩu, đồng thời khai thác hiệu quả hệ thống khu, cụm công nghiệp hiện có. Việc bố trí cơ sở chế biến cần gắn với vùng nguyên liệu, giao thông, nguồn nhân lực và năng lực xử lý môi trường để giảm chi phí vận chuyển, bảo đảm nguồn cung và nâng hiệu quả đầu tư.
Phát triển chế biến sâu vì vậy không chỉ là xây dựng thêm nhà máy, mà cần tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ. Khi nguyên liệu được chế biến tại chỗ, sản phẩm có chất lượng và giá trị cao hơn, địa phương có thêm cơ hội tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người sản xuất và giữ lại nhiều giá trị hơn trong nền kinh tế.
Hoàn thiện logistics, thúc đẩy chuyển đổi xanh và số
Đối với nông thủy sản, chất lượng có thể suy giảm nhanh nếu khâu thu gom, bảo quản và vận chuyển không đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, logistics cần được xem là một bộ phận quan trọng trong năng lực cạnh tranh của toàn chuỗi, nhất là với thủy sản và trái cây.
An Giang cần phát triển đồng bộ giao thông kết nối vùng sản xuất với khu, cụm công nghiệp; đầu tư cơ sở sơ chế, kho lạnh, bảo quản và dịch vụ vận tải phù hợp với từng ngành hàng. Quá trình đầu tư cần dựa trên nhu cầu thực tế, tránh hạ tầng phân tán, thiếu kết nối hoặc công suất không tương xứng với nguồn cung. Khuyến khích doanh nghiệp chế biến, logistics và phân phối cùng đầu tư, khai thác hạ tầng dùng chung sẽ giúp giảm chi phí cho các chủ thể trong chuỗi.
Song song với logistics, chuyển đổi xanh cần được triển khai từ vùng nguyên liệu đến nhà máy. Doanh nghiệp cần tăng cường tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu hao nước, kiểm soát chất thải và tận dụng phụ phẩm theo hướng kinh tế tuần hoàn. Theo định hướng trong tài liệu, đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu 40% doanh nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm đạt chứng nhận xanh, tuần hoàn hoặc tương đương.
Chuyển đổi số cũng cần gắn trực tiếp với quản lý sản xuất và chất lượng. Việc sử dụng mã số vùng trồng, mã số cơ sở nuôi, nhật ký sản xuất điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng, dự báo nguồn cung, lập kế hoạch thu mua và quản lý tồn kho hiệu quả hơn. Dữ liệu được kết nối sẽ tăng tính minh bạch của chuỗi cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng và thị trường xuất khẩu.
Liên kết vùng để mở rộng thị trường
Việc hình thành trung tâm đầu mối chế biến nông thủy sản gắn với vùng sinh thái nước ngọt chỉ phát huy hiệu quả khi kết nối được vùng nguyên liệu và năng lực chế biến của An Giang với hệ thống thương mại, logistics, tài chính và phân phối của toàn vùng. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế về thị trường tiêu dùng, hệ thống phân phối hiện đại, dịch vụ logistics và mạng lưới doanh nghiệp xuất khẩu.
An Giang cần tăng cường kết nối doanh nghiệp chế biến với các trung tâm phân phối, doanh nghiệp logistics, nhà nhập khẩu và kênh thương mại điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tỉnh, thành phố phía Nam. Hoạt động kết nối cung - cầu nên tập trung vào các ngành hàng chủ lực như gạo, thủy sản, trái cây, đồng thời hỗ trợ sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm OCOP và nông sản công nghệ cao tiếp cận các hệ thống phân phối quy mô lớn.
Liên kết vùng cần được duy trì thường xuyên thông qua chia sẻ thông tin thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, năng lực cung ứng, hạ tầng logistics và danh mục dự án thu hút đầu tư. Việc phân công phát triển theo lợi thế từng địa phương sẽ giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực, tăng khả năng kết nối giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ.

An Giang có điều kiện phát triển thành trung tâm đầu mối chế biến nông thủy sản gắn với vùng sinh thái nước ngọt
Bên cạnh thị trường trong nước, An Giang có thể khai thác lợi thế thương mại biên giới với Campuchia và kết nối các tuyến logistics khu vực để mở rộng đầu ra. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy tắc xuất xứ, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Do đó, xúc tiến thương mại phải đi cùng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và năng lực đáp ứng từng thị trường.
Theo bà Nguyễn Duy Ninh Thảo, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh An Giang, việc hình thành trung tâm đầu mối chế biến nông thủy sản gắn với vùng sinh thái nước ngọt đòi hỏi kết nối đồng bộ vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến, logistics và thị trường. Hiệu quả cần được đánh giá qua tỷ lệ chế biến sâu, giá trị gia tăng, mức độ ổn định đầu ra và chi phí chuỗi cung ứng. Ngành Công Thương cần phối hợp với các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp triển khai các chương trình phát triển công nghiệp chế biến, logistics, thương mại điện tử và kết nối cung - cầu; ưu tiên hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp gắn với vùng nguyên liệu, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao và mở rộng thị trường.
Hình thành trung tâm đầu mối chế biến nông thủy sản tại tỉnh An Giang không chỉ là bài toán về quy mô sản xuất hay số lượng nhà máy, mà là yêu cầu tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị. Khi người sản xuất có đầu ra ổn định, doanh nghiệp chủ động được nguyên liệu đạt chuẩn, chi phí logistics hợp lý và sản phẩm tiếp cận được thị trường rộng hơn, lợi thế nông nghiệp của tỉnh mới được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng bền vững cho An Giang cũng như vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Bà Nguyễn Duy Ninh Thảo cho rằng: Muốn tăng trưởng nhanh phải tháo gỡ từng điểm nghẽn, muốn tăng trưởng bền vững phải kết nối lợi thế thành một cái chuỗi giá trị chung. Việc hình thành Trung tâm đầu mối chế biến nông sản tại An Giang chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp cho người sản xuất có đầu ra ổn định, doanh nghiệp có nguyên liệu đạt chuẩn và cái chi phí logistics hợp lý, hàng hóa của vùng đi xa hơn. Đó là cái giá trị thực chất mà liên kết vùng cần hướng tới trong giai đoạn 2026 - 2030.

