An Giang tìm lời giải cho bài toán nuôi biển bền vững

An Giang có không gian biển 63.290 km², bờ biển dài trên 200 km cùng hơn 140 hòn đảo lớn nhỏ, mang lại dư địa sản xuất thủy sản nuôi biển to lớn.

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Ngày 27/10, tại phường Rạch Giá, tỉnh An Giang tổ chức Hội thảo khoa học “Phát triển bền vững nuôi biển tỉnh An Giang giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đại diện lãnh đạo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cùng các đơn vị chuyên ngành, chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và nhiều tỉnh, thành phố có biển, doanh nghiệp tham dự.

Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành đưa ra các luận cứ, gợi mở phát triển nuôi biển An Giang theo hướng công nghiệp, hiện đại và bền vững.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam gợi mở phát triển làng nuôi biển hiện đại trên cơ sở các công ty lớn đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất và cung ứng các dịch vụ đầu vào, đầu ra chuyên nghiệp, nhằm thu hút các doanh nghiệp, hợp tác xã và ngư dân thuê hạ tầng để sản xuất nuôi biển. Làng nuôi biển hiện đại có hạ tầng hiện đại, công nghệ nuôi biển tiên tiến, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế chung, sản phẩm đạt cùng tiêu chuẩn, cơ sở sản xuất được đăng kiểm, đảm bảo chất lượng và giảm giá thành, sản lượng lớn, tạo thương hiệu lớn, giảm ô nhiễm môi trường biển. Tỉnh cần xây dựng các quy chuẩn và tiêu chuẩn địa về nuôi biển công nghiệp, quản lý môi trường khu vực nuôi biển, các định mức kinh tế kỹ thuật của cơ sở nuôi biển công nghiệp.

Chủ trì Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Chủ trì Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Tiếp đến, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đề xuất giải pháp phát triển nuôi biển trong bối cảnh mới. Định vị nuôi biển với tiềm năng và lợi thế vốn có, chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản An Giang theo hướng ưu tiên nuôi biển công nghệ cao, kết hợp tạo lợi ích kép là hướng đi đúng.

Các khu vực, cụm nuôi biển phải phù hợp với quy hoạch không gian biển quốc gia và kế hoạch phân vùng chức năng biển của tỉnh để tránh nảy sinh các xung đột lợi ích. Nuôi biển gắn với nghề cá giải trí, gắn với du lịch, sinh kế người dân và gắn với an ninh - quốc phòng. Tỉnh cần có cơ chế, chính sách đặc thù để hỗ trợ các pháp nhân nuôi biển theo định hướng Nghị quyết 20.

Tương tự, PGS.TS. Võ Văn Nha, Viện khoa học Thủy sản Việt Nam gợi mở định hướng các đối tượng nuôi tiềm năng như: Cá bớp, cá chẽm, cá chim vây vàng, cá mú, cầu gai sọ dừa, ghẹ xanh Hàm Ninh, mực An Thới, tôm hùm, hải sâm, rong đỏ Hải Tùng và một số loài nhuyễn thể có giá trị…

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Tỉnh cần nâng cao hiệu quả đối với các đối tượng đang nuôi; tiếp nhận và ứng dụng công nghệ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đối với những loài có tiềm năng; nghiên cứu phát triển các đối tượng hải sản đặc trưng có giá trị kinh tế nhưng chưa hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Phát triển nuôi biển tỉnh An Giang trên cơ sở lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp, khai thác hợp lý lợi thế của từng đối tượng sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị kinh tế thủy sản, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển và đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế biển tỉnh An Giang theo hướng công nghiệp hiện đại và bền vững.

Bên cạnh đó, các vấn đề cốt lõi về ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, giải pháp tài chính và chế biến thủy sản xuất khẩu cũng được các đại biểu làm rõ, tháo gỡ rào cản về cơ chế chính sách, nguồn vốn và công nghệ.

Tại hội nghị các đại biểu chia sẻ kinh nghiệm quản lý nuôi biển theo chuỗi liên kết cộng đồng; chuyển đổi ứng dụng lồng nuôi công nghệ cao HDPE; cải tạo tàu cá phục vụ du lịch kết hợp nuôi biển tự nhiên; chuyển giao công nghệ cao và liên kết chuỗi tiêu thụ; mô hình trồng rong biển giảm phát thải; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và định hướng xây dựng thương hiệu xanh qua vùng bảo tồn liên kết (OECM) do IUCN Việt Nam đề xuất.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng nhấn mạnh, từ các tham luận chuyên sâu và trao đổi tại hội thảo, đã đạt được sự đồng thuận cao trên nhiều nhận thức và định hướng mang tính chiến lược. Đó là nhận diện đầy đủ bối cảnh mới và dư địa phát triển nuôi biển An Giang vượt trội; nhìn nhận về các điểm nghẽn và rủi ro; thống nhất nguyên tắc phát triển bền vững. Nuôi biển không chạy theo tăng diện tích hay sản lượng thuần túy, tuyệt đối không đánh đổi môi trường sinh thái lấy lợi ích ngắn hạn. Thước đo cao nhất là giá trị gia tăng, sức chịu tải môi trường, tính an toàn công trình và giải quyết hài hòa bài toán “Ngư dân - Ngư nghiệp - Ngư trường” nhằm bảo đảm sinh kế lâu dài, thúc đẩy nghề cá có trách nhiệm và tháo gỡ dứt điểm thẻ vàng IUU.

Theo đó, tỉnh rà soát quy hoạch không gian biển và quản trị biển đa mục tiêu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và quản lý theo sức tải môi trường; nhanh chóng giải quyết bài toán con giống, chuyển đổi thức ăn và phát triển đối tượng nuôi có giá trị kinh tế; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, lấy thị trường làm định hướng; hoàn thiện chính sách tín dụng, thu hút đầu tư và đào tạo nhân lực…

PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

An Giang có không gian biển 63.290 km², bờ biển dài trên 200 km cùng hơn 140 hòn đảo lớn nhỏ, mang lại dư địa sản xuất thủy sản nuôi biển to lớn.

Giai đoạn 2021 - 2026, tổng sản lượng nuôi biển của tỉnh tăng từ 69.269 tấn năm 2021 lên ước đạt 133.000 tấn năm 2026, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,9%/năm; tổng giá trị sản xuất nuôi biển giai đoạn 2021 - 2026 ước đạt 2.700 tỷ đồng.

Theo đó, cơ cấu nuôi biển của tỉnh ở hai nhóm mũi nhọn. Nuôi cá lồng bè ven đảo, tăng từ 3.612 lồng năm 2021 lên 6.115 lồng năm 2026, cung ứng khoảng 7.000 tấn cá đặc sản với mức tăng trưởng 12,2%/năm. Đáng chú ý, chương trình khuyến nông đã thí điểm hỗ trợ 117 lồng nuôi vật liệu mới HDPE, ứng dụng thành công quy trình VietGAP cho cá mú trân châu, cá bớp, cá chim vây vàng.

Đại biểu phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Đại biểu phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Tiếp đến, diện tích nuôi nhuyễn thể bãi triều ven biển mở rộng lên 24.950 ha năm 2026, sản lượng đạt 113.156 tấn. Cạnh đó, nghề nuôi trai cấy ngọc tại đảo Phú Quốc diện tích 300 ha, cho sản lượng ổn định khoảng 350.000 viên ngọc trai/năm, gắn bó hài hòa với mô hình du lịch sinh thái và chuỗi dịch vụ trải nghiệm.

Tỉnh đã cấp 382 mã số nhận diện cơ sở nuôi lồng bè, mở lớp đào tạo kỹ thuật cho 2.670 lượt cán bộ và ngư dân. Tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp nuôi biển công nghệ cao với tổng diện tích hơn 2.908 ha, quy mô vốn 1.116 tỷ đồng. Tỉnh bàn giao 420 ha mặt biển tại đặc khu Kiên Hải cho Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam đầu tư dự án nuôi biển công nghiệp công suất 30.000 tấn/năm với số vốn 400 tỷ đồng, trở thành doanh nghiệp đầu tiên trên cả nước được giao khu vực biển theo Luật Thủy sản năm 2017. Cùng với đó, tỉnh đã ban hành danh mục thu hút đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 với 8 dự án nuôi biển trọng điểm, tổng diện tích 2.480 ha và vốn mời gọi 1.730 tỷ đồng.

Tuy vậy, phát triển nuôi biển của An Giang còn đối diện nhiều rào cản, khó khăn. Đó là, phần lớn cơ sở nuôi của bà con ngư dân vẫn theo tập quán truyền thống, sử dụng lồng bè gỗ thô sơ, quy mô phân tán và phụ thuộc lớn vào nguồn cá tạp làm thức ăn, gây áp lực trực tiếp lên môi trường nền đáy. Hiện tượng biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài, mưa bão cực đoan, triều cường và hiện tượng tảo nở hoa đe dọa trực tiếp đến an toàn sinh học vùng nuôi. Chi phí con giống, thức ăn công nghiệp đầu vào tăng cao trong khi giá bán sản phẩm bấp bênh. Mối liên kết giữa ngư dân với các nhà máy chế biến, xuất khẩu còn lỏng lẻo; việc xây dựng thương hiệu chỉ dẫn địa lý và hệ thống truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ; chính sách hỗ trợ tín dụng và khuyến khích nuôi biển xa bờ công nghệ cao chưa đủ sức hấp dẫn để các hợp tác xã và doanh nghiệp mạnh dạn chuyển đổi…

UBND tỉnh An Giang và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam ký kết bản Thỏa thuận Hợp tác Chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

UBND tỉnh An Giang và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam ký kết bản Thỏa thuận Hợp tác Chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Mục tiêu phát triển đến năm 2030, tổng sản lượng nuôi biển đạt 250.000 tấn hải sản và 520.000 viên ngọc trai; phát triển 14.000 lồng, trong đó khoảng 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao; sản lượng dự kiến đạt 99.000 tấn. Nuôi nhuyễn thể diện tích đạt 26.900 ha, sản lượng 151.000 tấn, gồm các đối tượng như sò, hàu, trai ngọc, vẹm xanh, ốc hương và các đối tượng phù hợp khác. Giá trị sản xuất dự kiến đạt 19.487 tỷ đồng theo giá hiện hành; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu 24,3%/năm; dự kiến thu hút hơn 47.000 lao động tham gia.

Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng An Giang trở thành trung tâm nuôi biển hiện đại, xanh, thông minh và bền vững, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế biển của tỉnh và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tỉnh phân vùng hải đảo Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu, Tiên Hải, Sơn Hải, Hòn Nghệ, trọng tâm là phát triển nuôi cá biển công nghiệp lồng bè tròn bằng vật liệu HDPE chịu sóng gió lớn như: Cá mú, cá bớp, cá chẽm, cá chim vây vàng. Kết hợp nuôi các đối tượng hải sản có giá trị thương phẩm cao như ngọc trai, ốc hương, tôm hùm xanh, bào ngư và trồng rong biển, gắn kết mật thiết với các tuyến du lịch trải nghiệm cao cấp.

Tiếp đến, phân vùng bãi triều ven biển kéo dài từ Vân Khánh, Đông Hưng, Tân Thạnh, Tây Yên, Hòn Đất đến Kiên Lương, Tô Châu, quy hoạch tập trung nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ như: Sò huyết, hàu đại dương, vẹm xanh, nghêu lụa, sò lông. Quá trình mở rộng diện tích song hành với việc khoanh nuôi bảo vệ rừng ngập mặn phòng hộ, bảo tồn các bãi đẻ tự nhiên và giữ vững cân bằng hệ sinh thái ven bờ.

Tại hội thảo, UBND tỉnh An Giang và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam ký kết bản Thỏa thuận Hợp tác Chiến lược giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, mục tiêu xây dựng An Giang trở thành một trung tâm về phát triển nuôi biển công nghệ cao, hiện đại, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và nâng cao vị thế An Giang trong chuỗi giá trị thủy sản khu vực và quốc tế.

Lê Huy Hải/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/an-giang-tim-loi-giai-cho-bai-toan-nuoi-bien-ben-vung/442086.html