Áp lực từ những đại công trường

Hà Nội đang bước vào giai đoạn triển khai đồng loạt nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn, từ các công trình chống ngập, cầu vượt sông đến các tuyến đường vành đai, đường kết nối liên vùng. Cùng với những chuyển động mạnh mẽ ấy là lượng chất thải xây dựng phát sinh ngày càng lớn, tạo áp lực không nhỏ lên hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý.

Tuy nhiên, thay vì chỉ nhìn nhận đây là gánh nặng môi trường, nhiều chuyên gia cho rằng chất thải xây dựng hoàn toàn có thể trở thành nguồn tài nguyên phục vụ phát triển nếu được quản lý và tái chế theo mô hình kinh tế tuần hoàn.

Công trường dự án Quảng trường - Công viên phía Đông hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: Hoài Linh

Công trường dự án Quảng trường - Công viên phía Đông hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: Hoài Linh

Áp lực từ những đại công trường

Những tháng đầu năm 2026, Hà Nội chứng kiến không khí xây dựng sôi động trên nhiều công trường trọng điểm. Hàng loạt dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, chỉnh trang đô thị được đẩy nhanh tiến độ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô. Song song với đó là khối lượng lớn đất, đá, bê tông, gạch vỡ và vật liệu phá dỡ phát sinh mỗi ngày.

Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, từ đầu năm đến nay, cùng với việc triển khai đồng loạt nhiều dự án đầu tư xây dựng trọng điểm như các công trình chống ngập úng, cầu vượt sông hay các tuyến đường vành đai, lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh trên địa bàn thành phố đã tăng mạnh.

Trong khi đó, các cơ sở xử lý chất thải xây dựng hiện hữu trên địa bàn mới vận hành với tổng công suất khoảng 1.500 tấn/ngày, cơ bản chỉ đáp ứng được lượng phát sinh trung bình hằng ngày, chưa tính đến lượng chất thải phát sinh từ các đại công trường đang triển khai đồng loạt.

Theo ông Nguyễn Văn Quý, thực trạng này đang tạo ra nhiều áp lực đối với công tác quản lý chất thải xây dựng của thành phố. Trước hết là áp lực đối với hệ thống thu gom, vận chuyển khi khối lượng chất thải tăng đột biến, kéo theo nhu cầu sử dụng phương tiện và tần suất vận chuyển lớn hơn. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, quá trình vận chuyển có thể làm phát sinh bụi, rơi vãi vật liệu, ảnh hưởng đến môi trường và đời sống người dân.

Bên cạnh đó, các cơ sở xử lý hiện hữu cũng đứng trước nguy cơ quá tải. Trong nhiều trường hợp, thành phố phải bố trí các điểm tập kết tạm thời để lưu chứa trước khi vận chuyển về các cơ sở xử lý theo quy định.

Đáng lo ngại hơn là nguy cơ phát sinh các điểm đổ thải trái phép. Khi năng lực xử lý chưa theo kịp tốc độ phát sinh, việc đổ trộm chất thải xây dựng tại các khu đất trống, ven đường hoặc khu vực ngoại thành có thể xảy ra, gây mất mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Có thể thấy, cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ của đô thị, bài toán chất thải xây dựng đang trở thành một trong những thách thức mới đối với công tác quản lý môi trường đô thị của Hà Nội.

Từ phế thải đến nguồn tài nguyên

Nếu như trước đây chất thải xây dựng chủ yếu được nhìn nhận như một loại phế thải cần thu gom và chôn lấp, thì hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã tiếp cận theo một hướng hoàn toàn khác: coi đây là nguồn tài nguyên thứ cấp có thể tái sử dụng cho phát triển.

Theo TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, vấn đề cốt lõi hiện nay là cần chuyển từ tư duy xử lý chất thải sang tư duy kinh tế tuần hoàn.

Ông cho biết, kinh tế tuần hoàn đã được luật hóa tại Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường. Đây là mô hình kinh tế hướng tới việc giảm sử dụng nguyên liệu đầu vào, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường và giảm thiểu chất thải phát sinh.

Trong lĩnh vực xây dựng, mô hình này đã được nhiều quốc gia áp dụng thành công.

Liên minh châu Âu từ năm 2008 đã ban hành Chỉ thị quản lý chất thải, yêu cầu các quốc gia thành viên thu hồi và tái chế tới 70% lượng chất thải xây dựng phát sinh.

Tại Nhật Bản, Luật Tái chế vật liệu xây dựng được ban hành từ năm 2000 đã tạo nền tảng cho ngành tái chế phát triển mạnh. Đến năm 2018, lượng chất thải vật liệu xây dựng phải xử lý đã giảm khoảng 85%.

Singapore, quốc gia có quỹ đất hạn chế, cũng áp dụng các quy định rất nghiêm ngặt về quản lý vật liệu xây dựng nhằm giảm tối đa lượng chất thải phải chôn lấp.

“Những kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc chuyển đổi từ mô hình quản lý chất thải truyền thống sang mô hình kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực chất thải xây dựng là hoàn toàn phù hợp và cần thiết đối với Việt Nam”, TS Nguyễn Thế Thông nhận định.

Thực tế, nhiều loại chất thải xây dựng hiện nay hoàn toàn có thể được tái sử dụng. Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, đất, đá và chất thải rắn từ hoạt động xây dựng có thể được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng hoặc san lấp mặt bằng. Đất, bùn thải từ hoạt động đào móng, nạo vét cũng có thể được sử dụng để cải tạo, bồi đắp đất tại các khu vực phù hợp.

Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã ban hành nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến tái chế chất thải xây dựng như tiêu chuẩn về cốt liệu lớn tái chế cho bê tông, cát nghiền cho bê tông và vữa, hay cấp phối tái chế dùng làm lớp móng đường giao thông đô thị.

Những quy định này tạo cơ sở để các vật liệu sau tái chế được sử dụng rộng rãi hơn trong các công trình xây dựng, thay thế một phần nguồn tài nguyên tự nhiên đang ngày càng khan hiếm.

Hoàn thiện hệ sinh thái tái chế

Để biến chất thải xây dựng thành nguồn tài nguyên thực sự, theo các chuyên gia, điều quan trọng không chỉ là công nghệ xử lý mà còn là xây dựng được một hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn hoàn chỉnh.

Ông Nguyễn Văn Quý cho biết, Hà Nội hiện đã có đầy đủ cơ sở pháp lý và định hướng phát triển cho lĩnh vực này. Thành phố đã ban hành Đề án tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng đến năm 2030 và đang tiếp tục hoàn thiện các cơ chế liên quan đến phát triển nguồn cung vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trọng điểm.

Đặc biệt, Chương trình hành động về xử lý ô nhiễm môi trường đến năm 2030 của thành phố đã xác định rõ việc kêu gọi đầu tư các cơ sở xử lý, tái chế chất thải xây dựng thay cho mô hình bãi đổ và chôn lấp truyền thống.

Theo kế hoạch, nhiều dự án xử lý chất thải xây dựng sẽ được triển khai tại các khu vực như Chương Dương, Đông Anh, Tiến Thắng hay Tùng Thiện. Đây sẽ là những mắt xích quan trọng trong mạng lưới xử lý và tái chế chất thải xây dựng của Thủ đô.

TS Nguyễn Thế Thông cho rằng một trong những yếu tố quyết định thành công là phải tạo được động lực đủ mạnh để doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này.

Theo ông, đầu tư vào công nghệ tái chế đòi hỏi chi phí lớn trong khi thị trường vật liệu tái chế vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Vì vậy, các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích từ phía Nhà nước sẽ đóng vai trò rất quan trọng.

Đối với Hà Nội, việc triển khai Luật Thủ đô với các cơ chế đặc thù được xem là cơ hội để thành phố xây dựng các chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển ngành tái chế chất thải xây dựng theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Khi hệ thống thu gom, xử lý, tái chế và tiêu thụ sản phẩm được kết nối đồng bộ, chất thải xây dựng sẽ không còn là gánh nặng môi trường mà trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ trở lại cho các công trình xây dựng.

Trong bối cảnh Hà Nội đang bước vào giai đoạn phát triển hạ tầng với quy mô ngày càng lớn, việc thay đổi cách tiếp cận từ “xử lý chất thải” sang “khai thác tài nguyên từ chất thải” không chỉ giúp giảm áp lực môi trường mà còn mở ra một hướng phát triển mới cho ngành xây dựng. Đó cũng là bước đi cần thiết để Thủ đô tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững và tuần hoàn trong tương lai.

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ap-luc-tu-nhung-dai-cong-truong-1208157.html