Ba bài toán cho nấc thang tăng trưởng mới của Việt Nam

Chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế Trần Quốc Hùng nhấn mạnh, tương lai bứt phá của kinh tế Việt Nam đòi hỏi một cuộc chuyển mình thực chất bằng những cải cách sâu rộng.

Thế giới đổi chiều, Việt Nam đứng ở đâu?

Những rạn nứt địa chính trị, địa kinh tế không còn nằm trên bàn đàm phán giữa các quốc gia mà đã đi thẳng vào thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng. Ước tính của Quỹ Tiền tệ quốc tế, nếu tình trạng này kéo dài, tăng trưởng tiềm năng của kinh tế toàn cầu có thể mất khoảng 5-7 điểm phần trăm trong 5-10 năm tới.

Trong bối cảnh đó, chuỗi cung ứng quốc tế đang tìm cách phân tán rủi ro và theo chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế, chiến lược "Trung Quốc + 1 ", thậm chí "Trung Quốc + 2", ngày càng phổ biến khi các tập đoàn không muốn đặt toàn bộ sản xuất, nhà cung cấp và chuỗi cung ứng ở một quốc gia.

"Đây chính là cơ hội của Việt Nam", ông Hùng, hiện là cố vấn cao cấp tại Trung tâm Địa Kinh tế thuộc Hội đồng Đại Tây Dương ở Washington (Mỹ) và là cựu Phó giám đốc tại Viện Tài chính Quốc tế, khẳng định.

Thực tế, gần 15 năm qua, Việt Nam dần hình thành một vai trò khá đặc biệt mà ông Hùng gọi là nền kinh tế kết nối. Theo đó, Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện, tổ chức sản xuất, hoàn thiện sản phẩm rồi xuất khẩu sang các thị trường lớn khác.

Mạng lưới 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) giúp Việt Nam gia tăng sức hút nhờ không chỉ có chi phí sản xuất cạnh tranh mà còn kết nối rộng với các thị trường và chuỗi cung ứng.

"Dòng vốn FDI đăng ký bình quân 35-38 tỷ USD mỗi năm cũng trở thành một trong những bệ đỡ cho tăng trưởng 6-7% suốt hơn một thập kỷ", ông nhận xét.

Nhưng ông Hùng cũng chỉ ra thực tế, mô hình này đang dần chạm giới hạn. Hơn 80% kim ngạch xuất khẩu hiện đến từ khu vực FDI, trong khi liên kết với doanh nghiệp trong nước vẫn khá mỏng. Khi các tập đoàn đa quốc gia vào Việt Nam, họ thường mang theo mạng lưới nhà cung ứng quen thuộc từ chính quốc hoặc các đối tác đã nằm sẵn trong chuỗi toàn cầu.

Doanh nghiệp Việt vì thế khó chen vào những khâu tạo ra nhiều giá trị. Phần lớn mới dừng ở các mắt xích ngoại vi như bao bì, đóng gói hay dịch vụ phụ trợ.

Nhưng, điểm đáng nói hơn không nằm ở số lượng doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi, mà ở giá trị họ thực sự tạo ra trong chuỗi đó.

Chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế Trần Quốc Hùng. Ảnh: Trần Quỳnh.

Chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế Trần Quốc Hùng. Ảnh: Trần Quỳnh.

Ông Hùng dẫn chứng, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa của Việt Nam hiện khoảng 39%, thấp hơn mức 45-60% của nhiều nền kinh tế mới nổi trong khu vực. Việt Nam nhập khẩu nhiều linh kiện, nguyên liệu để sản xuất và xuất khẩu, nhưng lại chưa cung cấp được nhiều đầu vào cho chuỗi giá trị của các quốc gia khác.

“Nói cách khác, chúng ta đang kết nối khá mạnh với bên ngoài, nhưng chưa thực sự cắm rễ vào những chuỗi giá trị đó”, ông Hùng nhận định.

Điều này càng đáng lưu ý khi các thị trường lớn ngày càng siết kiểm soát xuất xứ. Từ đó, C/O không còn đơn thuần là một bộ hồ sơ xuất khẩu. Người mua muốn biết hàng hóa được tạo ra từ đâu, nguyên liệu đến từ đâu, qua những công đoạn nào và bao nhiêu giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam.

"Nếu không làm chủ chuỗi cung ứng và nâng tỷ lệ nội địa hóa thực chất, lợi thế xuất khẩu có thể ngày càng thu hẹp", ông nhận xét.

Không còn nhiều dư địa để tăng trưởng bằng cách “thêm người”

Một sức ép khác đang xuất hiện cùng lúc, theo vị chuyên gia, là động lực tăng trưởng từ dân số đang yếu dần.

Giai đoạn 2016-2023, kinh tế Việt Nam tăng trưởng khoảng 6-7% mỗi năm nhờ hai động lực chính là năng suất lao động tăng khoảng 5,6% và dân số tăng khoảng 1% mỗi năm. Nhưng thời kỳ dân số vàng đang đi qua. Tốc độ tăng dân số được dự báo giảm còn khoảng 0,6%, trong khi tỷ suất sinh đã xuống 1,91 con/phụ nữ, riêng TP.HCM khoảng 1,51.

Đến năm 2036, Việt Nam được dự báo bước vào giai đoạn dân số già, khi người từ 65 tuổi trở lên chiếm khoảng 14-15% dân số.

Khi số người bước vào thị trường lao động không còn tăng nhanh, nền kinh tế không thể tiếp tục trông chờ vào việc có thêm người để tạo thêm sản lượng. Phần việc còn lại phải đặt lên năng suất. Đó cũng là lý do mục tiêu tăng năng suất lao động 8,5% đến năm 2030 trở thành "bài toán khó".

“Nếu không tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi giờ lao động và mỗi đồng vốn bỏ ra, mục tiêu hai con số sẽ mãi là giấc mơ nằm ngoài tầm với”.

Ông Trần Quốc Hùng

Chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế

“Nếu muốn tăng trưởng GDP 10% trong điều kiện dân số chỉ đóng góp khoảng 0,6%, năng suất lao động phải tăng tối thiểu khoảng 9% mỗi năm”, ông Hùng tính toán.

Ông cho rằng, muốn tăng trưởng bước sang một nấc mới, Việt Nam phải đồng thời giải ba bài toán: vốn, con người và năng suất.

Về vốn, Việt Nam hiện dành khoảng 31% GDP mỗi năm cho đầu tư. Nếu muốn bước lên quỹ đạo tăng trưởng hai con số, tỷ lệ này, theo ông Hùng, cần tăng lên khoảng 40% GDP. Nhưng tăng vốn không đồng nghĩa tăng trưởng. Điều quan trọng là mỗi đồng vốn có tạo thêm năng lực sản xuất hay không.

"Nếu chỉ xây thêm nhà xưởng, mua thêm máy móc mà hiệu quả sử dụng vốn không được cải thiện, nền kinh tế có thể bỏ ra nhiều tiền hơn nhưng chưa chắc tạo ra nhiều giá trị hơn", ông lưu ý.

Về con người, Việt Nam từng hưởng lợi lớn từ quá trình dịch chuyển lao động khỏi nông nghiệp và khu vực phi chính thức sang công nghiệp. Tuy nhiên, dư địa này đang thu hẹp bởi hiện nay, chỉ khoảng 21% lao động có bằng đại học trở lên hoặc chứng chỉ đào tạo được công nhận và tỷ lệ này cần nâng lên ít nhất 35-40%.

Nhưng ngay cả khi có thêm vốn và lao động tốt hơn, vẫn còn một bài toán khó hơn: năng suất tổng hợp (TFP). Đây không còn là chuyện riêng của từng doanh nghiệp.

"Một doanh nghiệp có thể tối ưu dây chuyền, cắt chi phí, đưa công nghệ vào sản xuất. Nhưng để TFP của cả nền kinh tế tăng lên, cách vận hành của nền kinh tế cũng phải thay đổi. Đó là câu chuyện của thể chế, pháp luật, cơ cấu kinh tế và cách phân bổ nguồn lực", ông nhấn mạnh.

“Mở khóa” nguồn lực: Cải cách từ công nghệ, thị trường vốn đến thể chế

Để "mở khóa" nguồn lực, vị chuyên gia nhấn mạnh, Việt Nam không nhất thiết phải chạy đua phát minh công nghệ lõi hay tự chế tạo robot để cạnh tranh với các cường quốc. Lợi thế của một nền kinh tế đang phát triển nằm ở tốc độ và quy mô ứng dụng công nghệ.

Nhưng công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp có động lực thay đổi. Vì vậy, chính sách cần khuyến khích dòng doanh nghiệp mới, đặc biệt là các startup đổi mới sáng tạo, đồng thời cho phép khấu hao tài sản nhanh trong 3-5 năm để giảm áp lực cho những doanh nghiệp muốn đổi mới công nghệ.

Một hướng khác là thay đổi cách nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và phát triển. Theo ông Hùng, các chính sách đổi mới sáng tạo cần giảm tư duy cấp phát kinh phí hành chính theo kiểu “đề tài viện - trường” vốn ít chấp nhận rủi ro. Thay vào đó, có thể tham khảo mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm bằng ngân sách công nhưng giao thị trường vận hành.

Trong đó, Nhà nước đóng vai trò vốn mồi, còn danh mục đầu tư phải chịu sự sàng lọc của thị trường.

“Chỉ những sản phẩm thương mại hóa được, giải quyết được bài toán thực tế của doanh nghiệp mới xứng đáng nhận dòng vốn hỗ trợ”, ông nói.

Một nguồn lực khác nằm ngay trong nước nhưng chưa được khai thác hiệu quả là tiền tiết kiệm của người dân.

Ông Hùng cho hay, tỷ lệ tiết kiệm nội địa cao nhưng một phần lớn đang nằm trong vàng, bất động sản đầu cơ hoặc các kênh không trực tiếp tạo thêm năng lực sản xuất. Đồng thời, Việt Nam cũng cần hoàn thiện khung pháp lý cho quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ hưu trí tự nguyện và thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch.

"Khi các định chế tài chính chuyên nghiệp hoạt động hiệu quả và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư đủ rõ ràng, dòng tiền nhàn rỗi có thể trở thành nguồn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng", ông nói.

Với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bài toán theo ông Hùng cũng cần thay đổi. Trong giai đoạn mới, thu hút FDI không nên chỉ tính bằng số vốn đăng ký hay số nhà máy được xây dựng, mà phải tính đến lượng giá trị ở lại nền kinh tế. Theo đó, các dự án lớn cần có cam kết đào tạo nhân lực quản lý người Việt, kế hoạch liên doanh, chuyển giao công nghệ và sử dụng nhà cung ứng nội địa.

Cùng với đó, các trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng không nên chỉ trở thành nơi dòng vốn quốc tế đến rồi đi mà điều quan trọng là thiết lập cơ chế để nguồn vốn này đi vào khu vực kinh tế thực, giúp doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mở rộng sản xuất.

Cơ hội từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn đang mở ra. Nhưng theo ông, nếu Việt Nam chỉ dừng ở vai trò kết nối, nhập đầu vào - lắp ráp - xuất khẩu, thì quy mô có thể lớn lên mà năng lực bên trong chưa chắc lớn theo. Bài toán của giai đoạn tới vì thế không đơn thuần là thu hút thêm bao nhiêu vốn, xuất khẩu thêm bao nhiêu hàng hóa hay xây thêm bao nhiêu nhà máy.

Quan trọng hơn là mỗi đồng vốn, mỗi giờ lao động và mỗi dự án FDI để lại được bao nhiêu năng lực sản xuất, công nghệ và giá trị cho nền kinh tế.

Tứ đó, vị chuyên gia cũng nhấn mạnh, muốn đi xa hơn, Việt Nam phải tạo được một khu vực doanh nghiệp trong nước đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị, đồng thời tháo những điểm nghẽn thể chế đang khiến nguồn lực chưa chảy tới nơi tạo ra giá trị cao nhất.

"Tương lai kinh tế đất nước nằm ở sự dũng cảm bước qua sức ì thể chế, tạo dựng sân chơi bình đẳng cho khu vực tư nhân và khơi dậy thực lực sản xuất tự thân của chính các doanh nghiệp Việt Nam", ông đúc kết.

Ông Trần Quốc Hùng từng giữ nhiều vai trò điều hành và chiến lược tại các định chế tài chính hàng đầu thế giới như Deutsche Bank, Rabobank, Merrill Lynch và Salomon Brothers tại New York, Frankfurt, Singapore và London. Ông cũng là thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Quốc Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/ba-bai-toan-cho-nac-thang-tang-truong-moi-cua-viet-nam-d47798.html