Nhà đầu tư FDI không chỉ ngại chậm trễ, mà còn ngại sự mù mờ
Trong cuộc đua đón làn sóng dịch chuyển vốn khốc liệt hiện nay, một nhịp trễ về thời gian hành chính có thể khiến Việt Nam vuột mất cơ hội.
"Tốc độ xử lý thủ tục hành chính để đón dòng vốn FDI đang rất chậm", bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ, thẳng thắn nhìn nhận.
Dẫn chứng tại chính khu công nghiệp Phú Mỹ 3 do doanh nghiệp phát triển, bà Nhi cho hay, dù nhà đầu tư đã có sẵn đường sá, điện, nước và hệ thống xử lý nước thải, quá trình cấp phép đầu tư, môi trường, phòng cháy chữa cháy, thiết kế cơ sở... có thể kéo dài 6 - 8 tháng, thậm chí cả năm.
Về mặt quy định, mỗi thủ tục đơn lẻ chỉ chừng 45 ngày. Song khi bị xếp nối tiếp theo một chuỗi mắt xích liên hoàn, thời gian thực tế đã bị kéo giãn đến mức bào mòn sự kiên nhẫn, bà Thảo Nhi nói.
Đón sóng FDI không còn là cuộc đua đất rẻ, lao động rẻ
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn thu hút FDI khi các tập đoàn quốc tế tiếp tục phân tán chuỗi cung ứng để giảm rủi ro. Chiến lược "Trung Quốc + 1" mở ra dư địa cho các quốc gia Đông Nam Á, trong đó Việt Nam vẫn nằm trong nhóm những điểm đến được quan tâm. Thế nhưng vị trí này không còn chắc chắn như trước.
Bà Trang Lê, Tổng giám đốc JLL Việt Nam, cho hay, năm 2019 Việt Nam chỉ chiếm dưới 5% thị phần FDI sản xuất trong khu vực. Giai đoạn 2020 - 2021, con số tăng lên 18%, nhưng dữ liệu mới nhất lại giảm xuống dưới 5%, trong khi Indonesia và Thái Lan đang vươn lên.
"Việt Nam vẫn nằm trong top 3 điểm đến nhưng cạnh tranh khu vực ngày càng rõ nét", bà Trang Lê nhấn mạnh tại Diễn đàn Bất động sản công nghiệp Việt Nam 2026 với chủ đề “Cơ hội trong vòng xoáy biến động” do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp cùng Liên chi hội Bất động sản công nghiệp Việt Nam (VIREA), tổ chức mới đây.

Bà Trang Lê, Tổng giám đốc JLL Việt Nam. Ảnh: BTC
Sự chuyển dịch này cho thấy cuộc chơi đang thay đổi. Theo bà Trang Lê, nhà đầu tư quốc tế sẽ không chỉ còn hỏi Việt Nam có đất ở đâu, giá bao nhiêu mà muốn biết mất bao lâu để xây nhà máy, điện có ổn định không, logistics có thuận lợi không, lao động có đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật không và hệ sinh thái cung ứng có đủ sâu hay không?
Nói cách khác, lợi thế chi phí đang chuyển thành bài toán tổng chi phí mà các nhà đầu tư quốc tế phải tính toán lại.
Theo bà Trang, khi doanh nghiệp so sánh Việt Nam với Trung Quốc, chi phí vận hành ban đầu tại Việt Nam có thể thấp hơn. Thế nhưng, nếu tính thêm tỷ lệ sản phẩm lỗi do chất lượng lao động, lợi thế này có thể bị thu hẹp đáng kể. Trong khi đó, tại Trung Quốc, chuỗi cung ứng được chuẩn hóa và tự động hóa cao, nên tỷ lệ sai sót thấp.
"Trong những ngành công nghệ cao, chỉ một tỷ lệ lỗi nhỏ cũng có thể làm chi phí thực tế tăng lên. Vì vậy, lao động giá rẻ không còn là lợi thế đủ mạnh với Việt Nam nữa", bà nói.
Thực tế, thời gian gần đây, một tiêu chí quan trọng để nhà đầu tư quốc tế quyết định "xuống tiền" là họ sẽ cần lao động có kỹ năng, sản phẩm có độ chính xác cao và chất lượng ổn định. Đây cũng là bài toán mà doanh nghiệp trong nước nhìn thấy khá rõ: phải đào tạo người trước khi nhà máy đến.

Ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng giám đốc Công ty CP Khu công nghiệp Stavian. Ảnh: BTC
Ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng giám đốc Công ty CP Khu công nghiệp Stavian, cho rằng người Việt có khả năng tiếp thu công nghệ nhanh, nhưng nếu muốn đón các dự án công nghệ cao, không thể chờ đến lúc nhà máy vào rồi mới bắt đầu tìm lao động.
Góc nhìn này cũng giúp thay đổi tư duy về thu hút FDI. Thay vì chỉ chuẩn bị đất và nhà xưởng để chờ nhà đầu tư, địa phương và khu công nghiệp phải chuẩn bị cả con người, dịch vụ và chuỗi cung ứng. Đây là điều ngày càng quan trọng khi yêu cầu của dòng vốn mới cũng thay đổi.
Ở góc nhìn thực chiến, bà Thảo Nhi cho hay, làn sóng "Trung Quốc + 1" hiện nay khác khá xa vài năm trước. Các tập đoàn lớn không chỉ tìm địa điểm để mở thêm nhà máy, mà quan tâm nhiều hơn đến tiêu chuẩn phát triển bền vững và ESG. Điều đó khiến khu công nghiệp thế hệ mới phải đầu tư đồng bộ ngay từ đầu, từ giao thông, điện, nước đến xử lý nước thải, năng lượng sạch và các dịch vụ hỗ trợ.
"Chi phí đầu tư ban đầu vì thế lớn hơn khu công nghiệp truyền thống. Nhưng nếu không đáp ứng những yêu cầu này, Việt Nam có thể bỏ lỡ những dự án có chất lượng cao hơn", bà Nhi nhấn mạnh.
Nhiều nút thắt 'níu chân' dòng vốn ngoại
Qua quá trình tư vấn cho các nhà đầu tư 'chuyển hướng' vào Việt Nam, bà Trang rút ra ba yếu tố ngày càng quyết định việc họ có chọn Việt Nam hay không: tốc độ, hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực.
Về tốc độ, bà Trang cho hay, nhà đầu tư quan tâm nhất đến việc mất bao lâu để một dự án có thể đi từ quyết định đầu tư đến lúc vận hành. Những dự án lớn, có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thường được hỗ trợ nhanh, nhưng với mặt bằng chung, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thủ tục vẫn mất nhiều thời gian và chưa đồng đều giữa các địa phương.
"Vì vậy, điều cần thiết không chỉ là rút ngắn thời gian, mà còn phải chuẩn hóa quy trình để nhà đầu tư có thể biết trước mình sẽ mất bao lâu để hoàn tất thủ tục", bà nói.
Về hạ tầng,Việt Nam đã đầu tư mạnh cho hạ tầng trong những năm qua, nhưng tốc độ phát triển vẫn chưa hoàn toàn bắt kịp nhu cầu ngày càng lớn của dòng vốn FDI. Nhiều tập đoàn cần quỹ đất lớn, đồng thời phải có kết nối thuận lợi với giao thông, logistics và thị trường. Đây lại là nguồn cung còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực phía Nam, nơi hạ tầng kết nối vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
Nhưng quan trọng hơn cả với các ngành bán dẫn và công nghệ cao là chất lượng nguồn nhân lực. Thực tế, nhà đầu tư không chỉ nhìn vào mức lương, mà nhìn vào độ chính xác và tính ổn định của sản phẩm do người lao động tạo ra.
Vì vậy, đại diện JLL Việt Nam nhấn mạnh, bài toán của Việt Nam trong giai đoạn tới không đơn thuần là thu hút thêm lao động cho các nhà máy, mà là nâng chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra những sản phẩm ổn định, chính xác và đạt chuẩn ngay từ đầu.
"Đây mới là yếu tố có thể quyết định Việt Nam giữ được lợi thế trong cuộc đua đón dòng vốn sản xuất thế hệ mới", bà nhấn mạnh.
Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Tuấn Anh cho hay, có hai vấn đề cần được nhìn rõ hơn.
Thứ nhất là tốc độ, nhưng quan trọng không kém là tính minh bạch về thời gian. Nhà đầu tư nước ngoài không nhất thiết quá gay gắt nếu thủ tục được giải quyết chậm hơn dự kiến. Điều họ cần là biết rõ quy trình sẽ mất bao lâu để chủ động tính toán kế hoạch sản xuất, thời điểm giao hàng và các cam kết với tổ chức tài chính.
“Dù nhanh hay chậm, điều quan trọng là phải thông báo rõ thời hạn giải quyết để nhà đầu tư chủ động lập kế hoạch. Đây là điểm chúng ta hoàn toàn có thể cải thiện ngay”, ông nói.
Vấn đề thứ hai là chất lượng nguồn nhân lực và liên kết đào tạo. Theo ông, không thể chỉ chờ người lao động tự nâng cao kỹ năng rồi mới đáp ứng được nhu cầu của các nhà máy công nghệ cao.
“Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, doanh nghiệp không thể ngồi chờ. Phải tham gia vào quá trình đào tạo ngay từ đầu”, ông Tuấn Anh nhấn mạnh.

Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ. Ảnh: BTC.
Dẫn câu chuyện thực tế từ chính doanh nghiệp của mình, bà Thảo Nhi cho hay, Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ đã chọn định hướng phát triển bền vững từ 15 năm trước, đầu tư hệ thống quản lý và xử lý nước thải tập trung chuẩn A. Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định pháp luật mới về môi trường, sự chồng chéo trong quy định về miễn trừ đấu nối và quản lý tập trung khiến hai nhà máy mở rộng trong khu công nghiệp bị kẹt thủ tục suốt tám tháng qua chưa thể khởi công.
"Chúng tôi liên tục kiến nghị điều chỉnh luật pháp để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Nếu không cải cách thủ tục hành chính thực chất, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội thu hút các nhà đầu tư lớn", bà Nhi chia sẻ.
Ở góc độ cơ quan quản lý, bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), cho biết Chính phủ đang đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, đồng thời tập trung hoàn thiện hạ tầng chiến lược, tăng liên kết vùng và nghiên cứu những mô hình kinh tế mới như khu thương mại tự do, khu kinh tế đặc biệt và logistics kết hợp khu phi thuế quan.
Với các dự án quy mô lớn, cơ chế ưu đãi đặc thù cũng được nghiên cứu theo hướng tăng tính chủ động và rút ngắn thời gian đàm phán.
Đối với khu công nghiệp sinh thái, mục tiêu được đặt ra là tối thiểu 10% khu công nghiệp tại các địa phương chuyển đổi sang mô hình này. Một số đề xuất gồm kéo dài thời hạn hoạt động lên 70 năm, hỗ trợ tiếp cận tín dụng xanh và cho phép khấu trừ một số khoản chi phí đầu tư cho cộng sinh công nghiệp, chuyển đổi công nghệ xanh khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
"Những chính sách này nếu được thực thi hiệu quả có thể tạo thêm dư địa cho Việt Nam trong cuộc đua thu hút sản xuất", bà Hiếu nói.

